0

Create a clock with PowerPoint 2003

Posted by sanghv on 07/08/2011 in Tin học ứng dụng |

Hướng dẫn tạo đồng hồ với powerpoint 2003


sanghv


Comments

comments

Powered by Facebook Comments

0

Mail Merge

Posted by sanghv on 07/08/2011 in Tin học ứng dụng |

Video: Mail Merge with MS WORD 2003

sanghv


Comments

comments

Powered by Facebook Comments

0

Các loại hệ thống thông tin trong doanh nghiệp

Hệ thống xử lý giao dịch (TPS)

Giao dịch bất kỳ hoạt động và các sản phẩm là một phần của hoạt động bình thường của một tổ chức. Trong hệ thống TPS, nó ghi lại và quản lý dữ liệu này, nhưng nó không chuyển đổi dữ liệu này thành thông tin. Hình thức này của hệ thống thông tin chủ yếu được sử dụng để cung cấp các hệ thống thông tin khác với dữ liệu. Một số ví dụ về dữ liệu bao gồm: bán hàng, đơn đặt hàng, tiền lương, mua hàng, cơ sở dữ liệu giao dịch, sản xuất, nhân viên, nhà kho và các loại thuế.
 

Hệ thống thông tin quản lý (MIS)

Quản lý hệ thống thông tin dữ liệu từ các hệ thống xử lý giao dịch và sản xuất báo cáo thông tin kinh doanh. Những báo cáo này có thể được sản xuất trên một cơ sở thường xuyên hoặc bất cứ khi nào cần thiết. Mục đích sử dụng cho quản lý cấp trung. Mục đích chính của hệ thống thông tin quản lý là để hỗ trợ các nhà quản lý trong việc đưa ra quyết định có ảnh hưởng đến hoạt động ngắn hạn của một tổ chức. Các báo cáo MIS thường xuyên được sử dụng để mô tả sức khỏe của một doanh nghiệp / tổ chức. Kết quả đầu ra của MIS bao gồm: ngân sách, kế hoạch sản xuất, bản tóm tắt bán hàng, lợi nhuận / báo cáo tài chính.

mis.jpg

Hệ thống hỗ trợ quyết định (DSS)

DSS mất dữ liệu từ các hệ thống xử lý giao dịch, báo cáo từ các hệ thống quản lý thông tin và dữ liệu từ các nguồn bên ngoài như xu hướng kinh tế quốc dân, censes và số liệu thương mại. Họ sản xuất các báo cáo hỗ trợ quản lý cấp cao để lên kế hoạch cho tương lai. Những báo cáo này phân tích, phân tích dữ liệu từ nhiều nguồn và cho phép các nhà quản lý để làm cho “làm gì nếu” dự đoán.

dss.jpg

Hệ thống tự động hóa văn phòng (OAS)

OAS được sử dụng để quản lý số lượng lớn các dữ liệu và thông tin trong một tổ chức. Chúng làm giảm số lượng công việc cần thiết để chạy một văn phòng và giúp nâng cao hiệu quả. OAS công cụ tiêu biểu bao gồm xử lý văn bản, phần mềm DBMS, hộp thư thoại, phần mềm lập kế hoạch, phần mềm bảng tính và xuất bản máy tính để bàn.
 
sanghv


“Auto F5 reload window” options
Default timeout *
Timeout for this page *
Add random value to timeout between 0 and *
Show and hide menu
Ignore everything after these symbols in URL(separate with spaces)
Include the separators in the URL saved
Hide menu when clicking outside the menu
Prolong timeout on mouseclicks or keyboard input
Reload all pages with default timeout, which has no timeout set
*Format examples: hh:mm:ss, h:m:ss, m:sss, s etc. like 1:20:30 oder 500 oder 3:100

Comments

comments

Powered by Facebook Comments

0

Lập trình C#

Posted by sanghv on 31/07/2011 in Programming with C# |

Slides:
Chapter1: Chapter I C# Fundamentals
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5

Slides và bài tập tham khảo
Books:
Kỹ thuật lập trình với C# 2.0
Visual C# tiếng việt
Ngôn ngữ lập trình C#
sanghv


Comments

comments

Powered by Facebook Comments

0

Tứ dung trong nghệ thuật dùng người – st

Posted by sanghv on 13/06/2011 in General knowledge |

Một người lãnh đạo phải có suy nghĩ rộng rãi, khí độ khoáng đạt để có thể chấp nhận nhân tài, chấp nhận được sự vượt qua bản thân của một tài năng trên phương diện nào đó của cán bộ quản lý doanh nghiệp hay một nhân viên thông thường
Dưới bạn càng có nhiều nhân tài và tài năng của họ càng cao thì doanh nghiệp của bạn sẽ càng phát đạt và hưng thịnh. Ngược lại, nếu không có nhân tài thì sẽ không thể làm nên một việc gì.Ông vua gang thép nước Mỹ- Carnegie- có một loạt những kinh nghiệm và biện pháp riêng của bản thân trong quản lý doanh nghiệp, có một điều quan trọng là sự chấp nhận và dung nạp nhân tài. Trước khi qua đời, ông đã tự viết trên tấm bia mộ của bản thân như sau: “Nơi đây chôn cất một con người bình thường, biết tập hợp những người có tài năng vượt qua bản thân thành một tổ chức cấp dưới lớn mạnh”. Carnegie đã hiểu thấu đáo được một điều, đó là lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp không phải là những người có ba đầu sáu tay, họ cũng chỉ là những con người bình thường, muốn làm tốt công việc cũng phải dùng tới những người có tài năng, phải tập hợp nhân tài thành một thể thống nhất. Người lãnh đạo phải cố gắng tạo ra được môi trường để phát huy được tác dụng của nhân tài, lưu giữ nhân tài, dung nạp và sử dụng nhân tài. Trái lại với dung nạp nhân tài là sự đố kỵ tài năng, đó là một kiểu ý thức phong kiến thối nát, lạc hậu, là sự giết chết nhân tài không cần gươm giáo. Một số nhà lãnh đạo có tư tưởng bảo thủ, năng lực tầm thường nhưng đầu óc thì hạn hẹp, họ đã tìm mọi cách áp chế những nhân tài có năng lực cao hơn bản thân để giữ “thể diện” cho bản thân. Kết quả của sự đố kỵ tài năng, không thể dung nạp nhân tài chỉ có thể là đánh mất nhân tài và sử dụng kể bất tài, từ đó tố chất con người trong doanh nghiệp sẽ ngày càng đi xuống, hiệu suất công việc cũng ngày càng thấp hơn, thậm chí không thể thực hiện được một công việc bình thường. Vậy làm như thế nào để thực hiện được cái gọi là “dung nạp nhân tài”? Người lãnh đạo phải có được con mắt nhận biết nhân tài, tấm lòng yêu quý nhân tài, lòng can đảm bảo vệ nhân tài, ý chí sử dụng nhân tài và đức tiến cử nhân tài. Ngoài ra còn phải có khả năng dung ngôn, dung thác và dung oán.  Nghệ thuật dung ngôn (cho phép người khác đưa ra ý kiến ) Nghệ thuật dung ngôn chính là cho phép người khác, nhất là những người có tài năng, có suy nghĩ độc lập được nói để lắng nghe ý kiến của họ. Nếu biết nghe ý kiến từ hai phía thì sự việc được sáng tỏ, nếu chỉ nghe từ một phía thì sự việc sẽ càng trở nên tối tăm. Người lãnh đạo muốn có nghệ thuật dung ngôn thì không thể ban phát tình cảm để nâng cao vị trí lãnh đạo mà còn phải biết giao lưu tình cảm thực sự, có như vậy mới nâng cao được uy tín lãnh đạo của bản thân.

 Điều quan trọng hơn là khi quần chúng mà trong đó bao gồm cả những nhân tài phát hiện ra bạn có hứng khi nghe họ nói chuyện, cảm nhận được sự tôn trọng và tin tưởng mà bạn dành cho họ, từ đó họ sẽ thực sự cảm thấy rằng mình là chủ doanh nghiệp, tâm lý thoải mái sẽ giúp họ làm việc tốt hơn nhiều lần. Điểm mấu chốt trong nghệ thuật dung ngôn là phải nghe được ý kiến từ cả hai mặt chính diện và phản diện, nhất là ý kiến phản diện lại càng phải chú ý lắng nghe một cách khiêm tốn. Nghệ thuật dung thác (cho phép người khác phạm sai lầm) Người lãnh đạo phải biết cho phép người khác phạm sai lầm, cho phép người khác sửa chữa sai lầm, nhất định không được vùi dập những người đã từng mắc sai lầm. Nhân tài có năng lực tương đối cao, dễ làm nên thành tích, nhưng cũng dễ mắc sai lầm.  Lênin đã từng nói: “ Người thông minh không phải là người không mắc sai lầm, người thông minh là người không phạm sai lầm nghiêm trọng, đồng thời biết sửa chữa sai lầm một cách dễ dàng và nhanh chóng”. Đối với những nhân tài đã mắc sai lầm, lãnh đạo phải hết sức nhiệt tình giúp họ phân tích nguyên nhân và nhận biết được mức độ nghiêm trọng của sai lầm.  Trong tình hình mới cải cách, mở cửa, lãnh đạo càng phải biết đối xử đúng mực với những nhân tài đã từng mắc sai lầm. Xét từ quan điểm thời nay, có rất nhiều nhân tài trước đây không những chưa từng mắc sai lầm mà còn làm nên nhiều thành tích, người lãnh đạo cần phải biết trọng dụng đối với những nhân tài như vậy. Nghệ thuật dung oán ( bỏ qua thù oán cá nhân ) Dung oán chính là lãnh đạo doanh nghiệp không tính toán, cho phép nhân viên doanh nghiệp tạm thời không hiểu, tạm thời oán trách bản thân mình. Nhưng lãnh đạo phải biết kịp thời trao đổi tư tưởng với nhân viên doanh nghiệp để họ loại bỏ được sự hiểu lầm, giải quyết được những mắc mớ của họ về mặt tư tưởng.

Thời xưa có câu: “Trong bụng tể tướng có thể chống thuyền”, ý nói làm người tể tướng phải có lòng dạ rộng lượng, phải biết tha thứ đối với những sự việc và con người khó tha thứ.
 Lãnh đạo doanh nghiệp phải biết coi trọng sự nghiệp, phải chú ý tới toàn bộ đại cục, phải biết thực lòng yêu quý nhân tài, biết chấp nhận nhân tài, dung ngôn, dung thác, dung oán, giúp cho nhân tài có tâm lý thoải mái để phát huy sự thông minh, tài trí của bản thân và đưa ra được những cống hiến tuyệt vời.
sanghv


Comments

comments

Powered by Facebook Comments

0

Phát triển hệ thống thông tin trong doanh nghiệp

Posted by sanghv on 14/05/2011 in Economic Infomation System Development |

– Thông tin được hiểu theo nghĩa thông thường là một thông báo hay bản tin làm tăng thêm sự hiểu biết của một đối tượng nhận tin về một vấn đề nào đó, là sự thực hiện mối quan hệ giữa các sự kiện và hiện tượng.
– Thông tin là toàn bộ sự vật, sự việc, hiện tượng phản ánh hoạt động của con người trong đời sống kinh tế-xã hội. Để hoạt động có hiệu quả, doanh nghiệp cần thu thập, quản lý và xử lý thông tin một cách khoa học.
– Hệ thống là một tập hợp các phần tử có các mối quan hệ hữu cơ với nhau và cùng hoạt động hướng tới một mục đích chung.
– Hệ thống thông tin (HTTT) là một hệ thống được tổ chức để thu thập, xử lý, lưu trữ, phân phối,… nhằm cung cấp thông tin cần thiết phù hợp với từng tác nghiệp của tổ chức. Hệ thống thông tin còn giúp các nhà quản lý phân tích chính xác hơn các vấn đề, nhìn nhận một cách trực quan những đối tượng phức tạp, tạo ra các sản phẩm mới.
– Hệ thống thông tin trong một tổ chức bao gồm con người, các thiết bị phần cứng, phần mềm, dữ liệu,… thực hiện hoạt động thu thập, lưu trữ, xử lý và phân phối thông tin trong một tập hợp các ràng buộc được gọi là môi trường.
Một số HTTT quản lý trong một doanh nghiệp như:
v  Hệ thống quản lý nhân sự
v  Hệ thống quản lý tiền lương
v  Hệ thống quản lý vật tư
v  Hệ thống quản lý công văn đi, đến
v  Hệ thống kế toán
v  Hệ thống quản lý tiến trình…
– Thông tin quản lý tài sản cố định (TSCĐ) là thông tin có liên quan đến TSCĐ mà có ít nhất nhà quản lý dùng hoặc có ý định dùng vào việc ra quyết định quản lý.
– Các bộ phận cấu thành một hệ thống thông tin.
Mọi hệ thống thông tin đều gồm 4 bộ phận: Bộ phận đưa dữ liệu vào, bộ phận đưa dữ liệu ra, bộ phận xử lý, kho dữ liệu.
Đầu vào của hệ thống thông tin được lấy từ các nguồn và được xử lý bởi hệ thống sử dụng nó, cùng các dữ liệu đã được lưu trữ từ trước. Kết quả xử lý được chuyển đến các đích hoặc cập nhật vào kho dữ liệu.
Quá trình xử lý gồm các khâu: Thu thập, lưu trữ, xử lý, phân phối.
Như chúng ta đã biết từ trước, quản lý có hiệu quả của một tổ chức dựa phần lớn vào chất lượng thông tin do hệ thống thông tin chính thức sản sinh ra. Dễ thấy rằng từ sự hoạt động kém chất lượng của một hệ thống thông tin sẽ là nguồn gốc gây ra những hậu quả nghiêm trọng.
Một hệ thông tin tốt hay xấu được đánh giá thông qua chất lượng thông tin mà nó cung cấp. Tiêu chuẩn chất lượng như sau:
       Độ tin cậy: Thể hiện qua độ chính xác và độ xác thực. Thông tin ít độ tin cậy sẽ gây cho tổ chức những hậu quả xấu. Các hậu quả đó sẽ kéo theo hàng loạt các vấn đề khác của tổ chức như  uy tín, hình ảnh tổ chức,… trước các đối tác.
       Tính đầy đủ: Thể hiện sự bao quát các vấn đề để đáp ứng yêu cầu của nhà quản lý. Nhà quản lý sử dụng thông tin không đầy đủ có thể dẫn tới các quyết định hành động không đáp ứng đòi hỏi của tình hình thực tế. Điều này sẽ gây tổn hại lớn cho tổ chức.
Tính thích hợp và dễ hiểu: Một hệ thống thông tin không thích hợp hoặc khó hiểu do có quá nhiều thông tin không thích ứng với người nhận, thiếu sự sáng sủa, dùng nhiều từ viết tắt hoặc đa nghĩa, do các phần tử thông tin bố trí chưa hợp lý. Một HTTT như vậy sẽ dẫn đến hoặc làm hao tổn chi phí cho việc tạo ra các thông tin không cần thiết hoặc ra các quyết định sai do thiếu thông tin cần thiết.
Tính được bảo vệ: Thông tin vốn là nguồn lực quý giá của tổ chức. Vì vậy không thể để cho bất kỳ ai cũng có thể tiếp cận thông tin. Do vậy, thông tin cần được bảo vệ và chỉ những người có quyền mới được phép tiếp cận thông tin. Sự  thiếu an toàn về thông tin có thể cũng gây thiệt hại lớn cho tổ chức.
Tính kịp thời: Thông tin có thể là đáng tin cậy, dễ hiểu, thích ứng và được bảo vệ an toàn nhưng nó sẽ vẫn không có ích gì khi nó không được gửi tới người sử dụng lúc cần thiết.
Để có được một hệ thống thông tin hoạt động tốt, có hiệu quả cao là một trong những công việc của bất kỳ nhà quản lý nào. Để giải quyết được vấn đề đó cần xem xét kỹ cơ sở kỹ thuật cho các hệ thống thông tin, phương pháp phân tích thiết kế và cài đặt một HTTT.
Thời đại ngày nay là một thời đại của khoa học, công nghệ, thông tin. Hệ thống thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống quản lý sản xuất xã hội. HTTT mới sử dụng cung cấp cho các thành viên của tổ chức những công cụ hỗ trợ quản lý một cách hữu hiệu nhất. Phát triển một HTTT bao gồm việc phân tích HTTT đang tồn tại, thiết kế một HTTT mới, thực hiện và tiến hành cài đặt HTTT mới.
Phương pháp phát triển một hệ thống thông tin
Phương pháp phát triển một HTTT là một tập hợp các bước và các công cụ cho phép tiến hành một quá trình phát triển hệ thống chặt chẽ nhưng dễ quản lý hơn. Phương pháp phát triển một HTTT được đề nghị ở đây dựa vào nguyên tắc cơ bản chung của nhiều phương pháp hiện đại có cấu trúc để phát triển HTTT. Ba nguyên tắc đó là:
Ø Nguyên tắc 1: Sử dụng các mô hình. Đó là sử dụng các mô hình logic, mô hình vật lý trong và mô hình vật lý ngoài.
Ø Nguyên tắc 2: Chuyển từ cái chung sang cái riêng. Đây là nguyên tắc của sự đơn giản hóa. Thực tế chứng minh rằng để hiểu tốt một hệ thống trước hết phải hiểu các mặt chung sau đó mới xem xét các chi tiết.           
Ø Nguyên tắc 3: Chuyển từ mô hình logic sang mô hình vật lý khi thiết kế, chuyển từ  mô hình vật lý sang mô hình logic khi phân tích.
1.1.4.1 Khảo sát và lập kế hoạch dự án
Công việc chính của các bước phát triển HTTT này là khảo sát và thu thập thông tin của hệ thống hiện thời, sau đó thiết lập dự án.
Nghiên cứu hiện trạng là bước khởi đầu của tiến trình phát triển HTTT. Mục tiêu của hoạt động này là tìm hiểu bài toán hay là tìm hiểu nhu cầu về hệ thống. Việc khảo sát được chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn 1:
Ø Khảo sát sơ bộ: nhằm hình thành dự án phát triển HTTT.
Ø Khảo sát chi tiết: thu thập thông tin chi tiết của hệ thống, phục vụ cho việc phân tích và thiết kế.
Giai đoạn 2: Giai đoạn này tập trung giải quyết các vấn đề sau:
Ø Môi trường, các ràng buộc đối với HTTT cần xây dựng như thế nào?
Ø Chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu cần đạt được của HTTT là gì?
Ø Định ra giải pháp phân tích, thiết kế sơ bộ và xem xét tính khả thi của chúng.
Trên cơ sở các thông tin khảo sát, nhà phát triển đánh giá thực trạng, xác định các điểm yếu của hệ thống hiện tại, lập phương án phát triển HTTT, xác định phạm vi, hạn chế, mục tiêu của dự án.
1.1.4.2 Phân tích hệ thống
Phân tích hệ thống nhằm xác định các thông tin và các chức năng cần xử lý thông tin của các chức năng cần phát triển.
Phân tích hệ thống gồm những công việc cụ thể sau:
– Xác định yêu cầu của HTTT: chính là xác định các chức năng, dữ liệu nghiệp vụ và quy trình hoạt động của hệ thống; cách thức thực hiện của hệ thống hiện tại và vấn đề phát triển HTTT mới.
– Phân tích hệ thống về chức năng: nhằm xác định vấn đề tổng quát: “Hệ thống làm gì?”. Mục tiêu của công việc này là xác định các nhiệm vụ, chức năng của hệ thống đảm nhận, xác định các mối ràng buộc của mỗi chức năng của hệ thống, xác định các mối quan hệ thông tin giữa các chức năng của hệ thống, đặc tả chi tiết hoạt động của các chức năng.
– Phân tích hệ thống về dữ liệu: nhằm xây dựng mô hình dữ liệu quan niệm. Mô hình dữ liệu quan niệm mô tả súc tích các yêu cầu dữ liệu nghiệp vụ, nó mô tả tập các dữ liệu sử dụng trong hoạt động nghiệp vụ và tập các mối liên kết giữa chúng. Đây là cơ sở của việc thiết kế cơ sở dữ liệu (CSDL) hệ thống.
– Qua phân tích hệ thống, người phân tích cần tìm ra được các giải pháp cho các thiết kế ban đầu để đạt được yêu cầu đặt ra, so sánh để lựa chọn giải pháp thiết kế tốt nhất, đáp ứng các yêu cầu với chi phí, nguồn lực, thời gian và kỹ thuật cho phép để tổ chức thông qua.
1.1.4.3 Thiết kế hệ thống
Thiết kế là quá trình chuyển hóa các yêu cầu hệ thống về chức năng, hệ thống về dữ liệu kết hợp với các ràng buộc về môi trường cài đặt thông qua sử dụng các phương pháp, công cụ về thủ tục thiết kế thành các đặc tả thiết kế về hệ thống.
 Thiết kế logic: Thiết kế hệ thống logic không gắn với bất cứ hệ thống phần cứng và phần mềm nào; nó tập trung vào mặt nghiệp vụ của hệ thống thực.
 Thiết kế vật lý: là quá trình chuyển mô hình logic trừu tượng thành bản thiết kế hay các đặc tả kỹ thuật. Những phần khác nhau của hệ thống được gắn vào những thao tác và thiết bị vật lý cần thiết để tiện lợi cho việc thu thập dữ liệu, xử lý và đưa ra thông tin cần thiết cho tổ chức.
– Nội dung của thiết kế hệ thống bao gồm:
Ø Thiết kế kiến trúc hệ thống.
Ø Thiết kế các modul chương trình.
Ø Thiết kế giao diện chương trình.
Ø Thiết kế các báo cáo.
Ø Lập tài liệu thiết kế hệ thống.
– Các giai đoạn thiết kế hệ thống:
Ø Giai đoạn 1: thiết kế logic nhằm xây dựng các thành phần chính của hệ thống và mối quan hệ giữa chúng.
Ø Giai đoạn 2: thiết kế chi tiết là thiết kế chi tiết từng thành phần cấu thành nên hệ thống và mô tả mối quan hệ giữa các thành phần này một cách cụ thể và rõ ràng.
Tóm lại, thiết kế là việc áp dụng các công cụ, phương pháp, thủ tục để tạo ra mô hình hệ thống cần sử dụng. Sản phẩm cuối cùng của pha thiết kế là đặc tả hệ thống ở dạng như nó tồn tại trên thực tế, sao cho nhà lập trình và kỹ sư phần cứng có thể dễ dàng chuyển thành chương trình và cấu trúc hệ thống.
1.1.4.4 Thực hiện
Đây là giai đoạn nhằm xây dựng hệ thống theo các thiết kế đã xác định. Giai đoạn này bao gồm các công việc sau:
         Lựa công cụ hệ quản trị cơ sở dữ liệu và cài đặt cơ sở dữ liệu cho hệ thống;
         Lựa chọn công cụ lập trình để xây dựng các modul chương trình của hệ thống;
         Lựa chọn công cụ để xây dựng các giao diện hệ thống;
Xây dựng các tài liệu như sử dụng hệ thống, tài liệu kỹ thuật.
1.1.4.5 Kiểm thử
         Trước hết, phải lựa chọn công cụ kiểm thử;
         Kiểm chứng các modul chức năng của HTTT, chuyển các thiết kế thành các chương trình (phần mềm);
         Thử nghiệm HTTT;
         Cuối cùng là khắc phục các lỗi (nếu có).
Kết quả cuối cùng là một HTTT đạt yêu cầu đặt ra.
1.1.4.6 Triển khai và bảo trì
         Lắp đặt phần cứng để làm cơ sở cho hệ thống;
         Cài đặt phần mềm;
         Chuyển đổi hoạt động của hệ thống cũ sang hệ thống mới, gồm có: chuyển đổi dữ liệu; bố trí, sắp xếp người làm việc trong hệ thống; tổ chức hệ thống quản lý và bảo trì;
         Phát hiện các sai sót, khuyết điểm của HTTT;
         Cải tiến và chỉnh sửa HTTT;

Viết báo cáo nghiệm thu.
sanghv


Comments

comments

Powered by Facebook Comments

0

Lý luận chung về công tác kế toán tiền lương

Posted by sanghv on 14/05/2011 in Accounting, Economic Infomation System Development |

 

1.3.1 Tiền lương và các phương pháp tính lương

1.3.1.1 Lí luận chung về tiền lương

       Trong giai đoạn hiện nay, tiền lương luôn được coi là một bộ phận quan trọng của giá trị hàng hoá. Nó chịu tác động bởi nhiều yếu tố như kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử. Ngược lại tiền lương cũng tác động đến phát triển sản xuất, cải thiện đời sống và ổn định kinh tế xã hội. Chính vì thế, không chỉ nhà nước (ở tầm vĩ mô) mà cả doanh nghiệp và người lao động (ở tầm vi mô) đều quan tâm đến chính sách và hệ thống quản lí lương.
Tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn với người lao động, tiền tệ và nền sản xuất hàng hoá trong điều kiện có sự biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm xã hội mà người lao động được sử dụng để bù đắp hao phí về sức lao động của mình trong quá trình lao động. Thực chất đây là một khoản tiền cần phải trả cho người lao động tương ứng với số lượng, chất lượng kết quả lao động của họ. Trong điều kiện tồn tại nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, tiền lương là một bộ phận cấu thành giá trị của hàng hoá, đó là một phần chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Còn với người lao động, tiền lương là một nguồn thu nhập của người lao động.
 Tiền lương là giá trị sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động và nguồn sử dụng lao động. Để bù đắp phần hao phí lao động đó, họ cần có một lượng nhất định các vật phẩm tiêu dùng đáp ứng nhu cầu ăn ở, mặc, đi lại…  Như vậy người sử dụng lao động phải đáp ứng nhu cầu đó cho người lao động đúng mức hao phí mà họ đã bỏ ra thông qua tiền lương. Tiền lương đảm bảo cho người lao động có thể tái sản xuất sức lao động để họ có thể tham gia vào quá trình sản xuất tiếp theo. Thu nhập là nguồn sống chủ yếu của bản thân người lao động và gia đình họ. Như vậy bản chất của tiền lương là toàn bộ phần thu nhập từ lao động mà người lao động nhận được sau thời gian lao động mà họ đã bỏ ra.
Tiền lương về mặt sản xuất và đời sống có hai chức năng cơ bản sau:
– Chức năng tái sản xuất sức lao động: Trong qua trình lao động sản xuất, sức lao động hao mòn dần cùng với quá trình tạo ra sản phẩm. Để thu hút nguồn lực sản xuất và thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội, một mặt nhà nước tạo môi trường, điều kiện để người lao động có việc làm, mặt khác nhà nước có chính sách hợp lí để đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động.
– Chức năng đòn bẩy kinh tế: Lợi ích kinh tế là một hình thức biểu hiện của một chế độ kinh tế xã hội nhất định, là hoạt động thúc đẩy kinh tế của con người. Trong quá trình lao động, lơi ích kinh tế là động lực manh mẽ nhất của toàn bộ nền kinh tế xã hội. Việc giải quyết  đúng đắn vấn đề về lợi ích sẽ phát huy tiềm năng của mỗi người lao động một cách tốt nhất trong quá trình lao động sản xuất. Người lao động là nguồn lực sản xuất, chính sách tiền lương đúng đắn sẽ là động lực to lớn nhằm phát huy sức mạnh của con người trong việc thực hiện mục tiênu kinh tế xã hội. Chính vì vậy việc tổ chức hệ thống quản lý lương phải  thúc đẩy và khuyến khích người lao động nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động.
         Đối với doanh nghiệp, tiền lương phải trả cho công nhân là một bộ phận chi phí sản xuất kinh doanh trong kì. Yêu cầu đặt ra với kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương là làm sao tính được đúng, tính đủ chi phí tiền lương vào chi phí sản xuất kinh doanh.
        Tiền lương phải trả cho người lao động được căn cứ vào các chứng từ như: Sổ lao động (Danh sách công nhân trong biên chế), Bảng chấm công, Phiếu xác nhận khối lượng sản phẩm hoàn thành, bảng kê khối lượng hoàn thành… trên cơ sở chứng từ này, kế toán tiền lương tính ra số lương phải trả cho người lao động. Từ bảng thanh toán tiền lương, kế toán tổng hợp tiền lương phải trả theo từng đối tượng sử dụng lao động, các khoản trích theo lương theo tỷ lệ quy định vào chi phí của các bộ phận sử dụng lao động và phản ánh trên “Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội”. Như vậy, kế toán tiền lương phải tính ra được số tiền lương của từng lao động, các khoản trích theo lương mà người lao động được hưởng và phần tính vào chi phí.
      Người lao động trong doanh nghiệp có thể chia làm các bộ phận sau: công nhân trực tiếp sản xuất, công nhân quản lí phân xưởng, nhân viên bán hàng, nhân viên quản lí doanh nghiệp…Tiền lương và các khoản trích theo lương của các bộ phận này được tính vào chi phí nhân công trực tiếp sản xuất, chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng, chi phí quản lí doanh nghiệp. Các khoản trích theo lương được tính theo một tỉ lệ quy định trên tiền lương phải trả, trong đó 20% tính vào chi phí của bộ phân sử dụng và 8.5% người lao động phải nộp (trừ vào lương). Do đó, tùy thuộc vào doanh nghiệp trả lương theo thời gian (lương cơ bản * số ngày làm việc) hay trả lương theo sản phẩm (đơn giá một sản phẩm * số lượng sản phẩm hoàn thành đạt chất lượng) để từ đó xây dựng phương thức tính lương. Để chương trình có thể xử lí tiền lương của người lao động vào chi phí của bộ phận sử dụng lao động, có thể đặt mã cho bộ phận sử dụng lao động và người lao động của bộ phận nào sẽ mang mã của bộ phận đó. Khi đó nhập mã công nhân, số tiền lương cơ bản, ngày làm việc thì chương trình sẽ tự động tính lương, các khoản trích và xử lí theo định khoản đặt sẵn.
         Việc tính lương và trả lương tự động giúp cho việc tập hợp chi phí và tính giá thành nhanh chóng, kịp thời. Ngoài các sổ Cái TK 334, 3382, 3383, 3384, bảng phân bổ tiền lương và BHXH, chương trình kế toán có thể cung cấp các bảng tổng hợp trả lương và các khoản khác, bảng lương tháng theo từng doanh nghiệp và có thể cho phép in phiếu lương từng nhân viên.
          Tùy vào điều kiện của từng doanh nghiệp, cách trả lương mà chương trình có thể thiết kế chi tiết hơn.

1.3.1.2 Các cách tính lương

Việc tính, trả lương có thế thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau, tuỳ theo đặc điểm hoạt động kinh doanh, tính chất công việc và trình độ quản lí. Trên thực tế thường áp dụng các hình thức trả lương sau:
– Hình thức tiền lương thời gian: là hình thức tiền lương theo thời gian làm việc, cấp bậc kĩ thuật và thang lương của người lao động. Theo hình thức này, tiền lương thời gian, tiền lương phải trả được tính bằng: thời gian làm việc thực tế nhân với mức lương thời gian.
Tiền lương thời gian với đơn giá tiền lương cố định gọi là tiền lương thời gian giản đơn. Tiền lương thời gian giản đơn có thể kết hợp chế độ tiền thưởng để khuyến khích người lao động hăng hái làm việc, tạo nên tiền lương thời gian có tiền thưởng.
Để áp dụng trả lương theo thời gian, doanh nghiệp phải theo dõi, ghi chép thời gian làm việc của người lao động và mức lương thời gian của họ.
Các doanh nghiệp chỉ áp dụng tiền lương thời gian cho những công việc chưa xây dựng được định mức lao động, chưa có đơn giá tiền lương sản phẩm; thường áp dụng cho lao động làm công tác văn phòng như: hành chính, quản trị, thống kê, kế toán…
– Hình thức tiền lương theo sản phẩm: là hình thức tiền lương theo số lượng và chất lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành đảm bảo yêu cầu chất lượng và đơn giá tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm, công việc đó. Tiền lương sản phẩm phải trả tính bằng: số lượng hoặc khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành đủ tiêu chuẩn chất lượng nhân với đơn giá tiền lương sản phẩm.
Việc xác định tiền lương sản phẩm phải dựa trên các tài liệu về hạch toán kết quả lao động.
Tiền lương sản phẩm có thể áp dụng đối với lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm, gọi là tiền lương sản phẩm trực tiếp, hoặc có thể áp dụng đối với người gián tiếp phục vụ sản xuất sản phẩm gọi là tiền lương sản phẩm gián tiếp.
Để khuyến khích người lao động nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp có thể áp dụng các đơn giá lương sản phẩm khác nhau
+ Tiền lương sản phẩm tính theo đơn giá tiền lương cố định gọi là tiền lương sản phẩm giản đơn
+ Tiền lương sản phẩm giản đơn kết hợp với tiền thưởng về năng suất, chất lượng sản phẩm gọi là tiền lương sản phẩm có thưởng
+ Tiền lương sản phẩm tính theo đơn giá lương sản phẩm tăng dần áp dụng theo mức độ hoàn thành vượt mức khối lượng sản phẩm gọi là tiền lương sản phẩm luỹ tiến.
Ngoài ra, tuỳ theo tính chất công việc cũng như cách thức hạch toán tiền lương mà các đơn vị có thể sử dụng một trong hai cách trên hoặc áp dụng đồng thời cả hai cách.

1.3.2 Cơ sở lý luận về các khoản trích theo lương

Bảo hiểm Xã hội: Nhà nước quy định về chính sách Bảo hiểm Xã hội (BHXH) nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình trong các trường hợp: ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác. Các loại hình BHXH bắt buộc hoặc tự nguyện được áp dụng phổ biến đối với từng đối tượng và từng doanh nghiệp để đảm bảo cho người lao động  hưởng chế độ BHXH thích hợp.
 Loại hình BHXH bắt buộc được áp dụng đối với những doanh nghiệp sử dụng từ mười người lao động trở lên, ở những doanh nghiệp này, người sử dụng lao động, người lao động phải đóng BHXH theo quy định tại điều 149 của Bộ luật Lao động. Người làm việc ở những nơi sử dụng dưới mười lao động, hoặc làm những công việc dưới ba tháng, theo mùa vụ, hoặc làm các công việc có tính chất tạm thời khác, thì các khoản BHXH được tính vào lương do người sử dụng lao động trả để người  lao động tham gia BHXH theo loại hình tự nguyện hoặc tự lo liệu về bảo hiểm. Khi ốm đau, người lao động được khám bệnh va điều trị tại cơ sở y tế theo chế độ bảo hiểm y tế (BHYT).
Ngoài ra Nhà nước quy định doanh nghiệp phải trích bằng 22% mức lương cơ bản; trong đó 16% tính vào chi phí kinh doanh của đơn vị, 6% người lao động phải nộp từ thu nhập bình quân của mình. Quỹ BHXH dùng chi: bảo hiểm xã hội thay lương trong thời gian người lao động ốm đau, nghỉ chế độ thai sản, tai nạn lao động. Không thể làm việc tại doanh nghiệp, chi trợ cấp hưu trí cho người lao động về nghỉ hưu trợ cấp tiền tử tuất, trợ cấp bồi  dưỡng cho người lao động khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…
Về Bảo hiểm Y tế: Nhà nước quy định trích 4,5% theo lương cơ bản của người lao động, trong đó 3% doanh nghiệp tính vào chi phí kinh doanh, 1,5% người lao động phải nộp. Khi ốm đau, người lao động được khám bệnh va điều trị tại cơ sở y tế theo chế độ Bảo hiểm Y tế (BHYT). Quỹ Bảo hiểm Y tế chi phí cho việc khám chữa điều trị, tiền thuốc chữa bệnh ngoại trú…chi phí khám sức khoẻ định kì cho người lao động.
Kinh phí công đoàn: hình thành do việc trích lập theo tỉ lệ quy định trên tổng số tiền lương thực tế phải trả cho người lao động thực tế phát sinh trong tháng, tính vào chi phí sản xuất kinh doanh.
Tỉ lệ trích kinh phí công đoàn theo chế độ hiện hành là 2%. Số kinh phí công đoàn doanh nghiệp trích được, một phần nộp lên cơ quan quản lí công đoàn cấp trên, một phần để lại doanh nghiệp chi tiêu cho hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp.
Bảo hiểm thất nghiệp: từ ngày 01.01.2009 người lao động và các doanh nghiệp sẽ bắt đầu đóng Bảo hiểm thất nghiệp, và ít nhất tới 01.01.2010 người lao động bị thất nghiệp sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Có thể coi đây là chính sách mới có tác động trực tiếp tới người lao động, người sử dụng lao động và vấn đề an sinh xã hội nhằm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị thất nghiệp.
Đối tượng được nhận BHTN là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng với người sử dụng lao động có từ mười lao động trở lên.
Điều kiện được hưởng BHTN là phải đóng BHTN đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; đã đăng kí với cơ quan lao động khi bị mất việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động và chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng kí với cơ quan lao động theo quy định.
(Với quy định này thì tối thiểu phải tới 01.01.2010, các lao động bị thất nghiệp có đóng BHTN mới bắt đầu được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Năm 2009 mới tiến hành thu phí BHTN là chính)
Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi người lao động thất nghiệp. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ là 3 tháng nếu có từ đủ 12 tháng đến dưới 36 tháng đóng BHTN; 6 tháng nếu có từ đủ 36 tháng đến dưới 72 tháng đóng BHTN; 9 tháng nếu có từ đủ 72 tháng đến dưới 144 tháng đóng BHTN; 12 tháng nếu có từ đủ 144 tháng đóng BHTN trở lên.
            Nhà nước quy định: Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp. Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

1.3.3 Cơ sở lý luận về thuế Thu nhập cá nhân

* Đối tượng nộp thuế:
Đối tượng nộp thuế đối với người có thu nhập cao (dưới đây gọi tắt là đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân) bao gồm:
– Cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam
– Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau:
+ Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam.
+ Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi đăng kí thường trú hoặc có nhà thuê liên tục từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.
– Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện của cá nhân cư trú.
Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân là thu nhập chịu thuế và thuế suất.
·        Thu nhập chịu thuế:
1. Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm:
a) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ;
b) Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.
2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
b) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật Lao động, các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi trả, trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội.
c) Tiền thù lao dưới các hình thức
d) Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lí và các tổ chức
đ) Các khoản lợi ích khác mà đối tượng nộp thuế nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền
e) Tiền thưởng, trừ các khoản tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng, tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế, tiền thưởng về cải tiến kĩ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận, tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm:
a) Tiền lãi cho vay;
b) Lợi tức cổ phần;
c) Thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác, trừ thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ.
4. Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn trong các tổ chức kinh tế
b) Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán
c) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác.
5. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
b) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở
c) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước
d) Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản.
6. Thu nhập từ trúng thưởng, bao gồm:
a) Trúng thưởng xổ số
b) Trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại
c) Trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino
d) Trúng thưởng trong các trò chơi, cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác.
7. Thu nhập từ bản quyền, bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
b) Thu nhập từ chuyển giao công nghệ.
8. Thu nhập từ nhượng quyền thương mại.
9. Thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng kí sở hữu hoặc đăng kí sử dụng.
10. Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng kí sở hữu hoặc đăng kí sử dụng.
·        Thu nhập được miễn thuế
1. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.
2. Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất.
3. Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất.
4. Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.
5. Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường.
6. Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao để sản xuất.
7. Thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng Bảo hiểm Nhân thọ.
8. Thu nhập từ kiều hối.
9. Phần tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương làm việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của pháp luật.
10. Tiền lương hưu do Bảo hiểm xã hội chi trả.
11. Thu nhập từ học bổng, bao gồm:
a) Học bổng nhận được từ ngân sách nhà nước;
b) Học bổng nhận được từ tổ chức trong nước và ngoài nước theo chương trình hỗ trợ khuyến học của tổ chức đó.
12. Thu nhập từ bồi thường hợp đồng Bảo hiểm Nhân thọ, phi nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn lao động, khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật.
13. Thu nhập nhận được từ quỹ từ thiện được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, không nhằm mục đích lợi nhuận.
14. Thu nhập nhận được từ nguồn viện trợ nước ngoài vì mục đích từ thiện, nhân đạo dưới hình thức chính phủ và phi chính phủ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
·        Thuế suất: 
Kể từ 1-1-2009, khi Luật thuế TNCN có hiệu lực, sẽ không áp dụng cách tính thuế theo đối tượng có thu nhập thường xuyên từ trên 5 triệu đồng nữa, mà sẽ áp dụng cách tính giảm trừ gia cảnh. Theo đó, mỗi đối tượng nộp thuế sẽ được giảm trừ gia cảnh cho bản thân là 4 triệu đồng/tháng, cứ mỗi người phụ thuộc được giảm thêm 1,6 triệu đồng/người/tháng. Số còn lại sẽ nộp thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần với thuế suất 5% (mức áp dụng cho phần thu nhập tính thuế đến 5 triệu đồng).
Áp dụng theo Biểu thuế luỹ tiến từng phần quy định tại mục 2 điều 22 pháp lệnh sửa  đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao như sau:
            + Biểu thuế luỹ tiến từng phần áp dụng đối với cá nhân có thu nhập từ hoạt động kinh doanh, tiền công, tiền lương:

Bậc thuế
Phần thu nhập tính thuế/năm(triệu đồng)
Phần thu nhập tính
thuế/tháng(triệu đồng)
Thuế suất
(%)
1
Đến 60
Đến 5
5
2
Trên 60 đến 120
Trên 5 đến 10
10
3
Trên 120 đến 216
Trên 10 đến 18
15
4
Trên 216 đến 384
Trên 18 đến 32
20
5
Trên 384 đến 624
Trên 32 đến 52
25
6
Trên 624 đến 960
Trên 52 đến 80
30
7
Trên 960
Trên 80
35

·        Giảm trừ gia cảnh:
1. Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú. Giảm trừ gia cảnh gồm hai phần sau đây:
a) Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng (48 triệu đồng/năm);
b) Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 1,6 triệu đồng/tháng.
2. Việc xác định mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế.
3. Người phụ thuộc là người mà đối tượng nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng, bao gồm:
a) Con chưa thành niên; con bị tàn tật, không có khả năng lao động;
b) Các cá nhân không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức quy định, bao gồm con thành niên đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề; vợ hoặc chồng không có khả năng lao động; bố, mẹ đã hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động; những người khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng.
(Thông tin thêm về người phụ thuộc: Các trường hợp như anh, chị, em ruột; ông, bà nội, ông, bà ngoại; cô, dì, cậu, chú, bác ruột; cháu ruột (gồm con của anh, chị, em ruột) chỉ được xem là người phụ thuộc nếu ngoài độ tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động nhưng bị tàn tật, không có khả năng lao động, không có thu nhập hoặc có thu nhập dưới 500.000 đồng/tháng mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng.)
Chính phủ quy định mức thu nhập, kê khai để xác định người phụ thuộc được tính giảm trừ gia cảnh.
Hồ sơ  chứng minh người phụ thuộc :
Theo Thông tư 84 của Bộ tài chính về Thuế TNCN, đối tượng nộp thuế chỉ được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc nếu đã đăng kí thuế và được cấp mã số thuế. Riêng năm 2009, trường hợp chưa đăng kí thuế thì vẫn được tạm giảm trừ gia cảnh nếu thực hiện đăng kí giảm trừ gia cảnh và có đủ hồ sơ chứng minh người phụ thuộc. Hồ sơ giảm trừ gia cảnh nộp tại nơi nộp tờ đăng kí kê khai cấp mã số thuế.
Cụ thể, hồ sơ chứng minh người phụ thuộc là con chưa thành niên gồm bản sao giấy khai sinh hoặc bản sao sổ hộ khẩu. Đối với con trên 18 tuổi bị tàn tật thì ngoài giấy tờ trên còn cần có bản sao xác nhận của cơ quan y tế từ cấp huyện trở lên hoặc bản khai có xác nhận của UBND cấp xã về mức độ tàn tật không có khả năng lao động.
Trường hợp con đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề (kể cả học ở nước ngoài), để được giảm trừ thì cần nộp bản sao giấy khai sinh hoặc bản sao sổ hộ khẩu; bản sao thẻ sinh viên hoặc bản khai có xác nhận của nhà trường hoặc các giấy tờ khác chứng minh đang theo học tại trường.
Đối với vợ hoặc chồng đã hết tuổi lao động, hồ sơ giảm trừ cần bản sao sổ hộ khẩu hoặc bản sao giấy chứng nhận kết hôn. Vợ hoặc chồng trong độ tuổi lao động thì ngoài các giấy tờ trên phải có thêm bản sao xác nhận của cơ quan y tế từ cấp huyện trở lên hoặc bản khai có xác nhận của UBND cấp xã về mức độ tàn tật không có khả năng lao động.
Các trường hợp có thể được giảm trừ khác (cha, mẹ, anh chị em ruột, ông bà nội ngoại… đã hết tuổi lao động hoặc tàn tật không có khả năng lao động) thì cần có bản sao sổ hộ khẩu hoặc giấy tờ liên quan khác để xác định rõ mối quan hệ của người phụ thuộc với đối tượng nộp thuế; và/hoặc bản sao xác nhận của cơ quan y tế cấp huyện trở lên hoặc bản khai có xác nhận của UBND cấp xã về mức độ tàn tật không có khả năng lao động.
            + Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, trúng thưởng, tiền bản quyền, nhượng quyền thương mại, nhận thừa kế, quà tặng.

1.3.4 Quy trình hạch toán kế toán tiền lương

v Các chứng từ hạch toán lao động, tính lương và trợ cấp bảo hiểm xã hội
– Chứng từ hạch toán lao động:
+ Mẫu số: 01a – LĐTL – Bảng chấm công; 01b – LĐTL – Bảng chấm công làm thêm giờ.
+ Bảng thanh toán lương (Mẫu 02 – LĐTL)
+ Mẫu số: 05 – LĐTL – Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành
+ Mẫu số: 06 – LĐTL – Bảng thanh toán tiền làm thêm giờ
+ Mẫu số: 08 – LĐTL – Hợp đồng giao khoán
+ Bảng thanh toán tiền thuê ngoài – Mẫu 07 – LĐTL
+ Bảng thanh lí (nghiệm thu) hợp đồng giao khoán – Mẫu 09 – LĐTL
+ Bảng kế trích nộp các khoản theo lương – Mẫu 10 – LĐTL
+ Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội – Mẫu 11 – LĐTL
Ngoài ra, sử dụng một số chứng từ ban hành theo các văn bản pháp luật khác.
– Chứng từ tính lương và các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội
Căn cứ vào chứng từ ban đầu có liên quan đến tiền lương và trợ cấp BHXH được duyệt, kế toán lập các bảng thanh toán sau:
+ Bảng thanh toán lương – Mẫu 02 – LĐTL
Mỗi tổ sản xuất, mỗi phòng ban mở một bảng thanh toán lương, trong đó kê tên và các khoản lương được lĩnh của từng người trong đơn vị.
+ Danh sách người lao động hưởng trợ cấp BHXH
Bảng này được mở để theo dõi cho cả doanh nghiệp về các chỉ tiêu: họ tên, nội dung từng khoản BHXH người lao động được hưởng trong tháng.
+ Bảng thanh toán tiền lương – Mẫu 03 – LĐTL
Bảng này được lập cho từng tổ sản xuất, từng phòng, ban, bộ phận kinh doanh…; các bảng thanh toán này là căn cứ để trả lương và khấu trừ các khoản khác như BHXH, BHYT, khoản bồi thường vật chất… đối với người lao động
v Tài khoản kế toán sử dụng
Để tiến hành kế toán lương và các khoản trích theo lương, kế toán sử dụng một số tài khoản sau:
·        Tài khoản 334 – Phải trả người lao động
Kết cấu tài khoản này như sau:
Bên nợ:
         Các khoản tiền lương và các khoản phải trả người lao động
         Các khoản khấu trừ vào tiền lương và thu nhập của người lao động
         Các khoản tiền lương và thu nhập của người lao động chưa lĩnh, chuyển sang các khoản thanh toán khác
Bên có:
         Các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng có tính chất lương, BHXH và các khoản còn lại phải trả, phải chi cho người lao động.
Dư nợ (nếu có): số tiền trả thừa cho người lao động
Dư có: Tiền lương, tiền công, tiền thưởng có tính chất lương và các khoản còn lại phải trả cho người lao động
Tài khoản này được mở theo hai tài khoản cấp hai:
– Tài khoản 3341 – Phải trả công nhân viên
– Tài khoản 3348 – Phải trả người lao động khác
·        Tài khoản 338 – Phải trả, phải nộp khác
Kết cấu tài khoản này như sau:                 
Bên nợ:
         Các khoản đã nộp cho cơ quan quản lí
         Khoản BHXH phải trả cho người lao động
         Các khoản đã chi về kinh phí công đoàn
         Xử lí giá trị tài sản thừa, các khoản đã trả, đã nộp khac
Bên có:
         Trích BHXH, BHYT,KPCĐ tính vào chi phí kinh doanh, khấu trừ vào lương công nhân viên
         Số đã nộp, đã trả lớn hơn số phải nộp, phải trả được cấp bù
         Các khoản phải trả khác
Dư nợ (nếu có): Số trả thừa, nộp thừa, vượt chi chưa được thanh toán
Dư có : Số tiền phải trả, phải nộp
TK 338 có các tài khoản cấp hai liên quan đến kế toán lương:
+ 3382 – Kinh phí công đoàn
+ 3383 – Bảo hiểm xã hội
+ 3384 – Bảo hiểm y tế
+ 3388 – Phải trả, phải nộp khác
Ngoài ra kế toán còn sử dụng một số tài khoản khác như: TK 335 – Chi phí phải trả; TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp; TK 627 – Chi phí sản xuất chung; TK 111,112,138…
v Trình tự kế toán các nghiệp vụ liên quan tới tiền lương, các khoản trích theo lương
1.      Hàng tháng tính tiền lương, các khoản phụ cấp theo quy định phải trả cho người lao động và phân bổ cho các đối tượng, kế toán ghi sổ theo định khoản:
Nợ TK 241- tiền lương trả cho bộ phận XDCB
Nợ TK 622 – tiền lương trả cho công nhân t.tiếp sx
Nợ TK 623(6231) – tiền lương trả cho công nhân sử dụng máy
Nợ TK 627(6271) – tiền lương trả cho CNV quản lí phục vụ  ở pxsx
Nợ TK 641(6411) – tiền lương phải trả cho nhân viên bán hàng
Nợ TK 642(6421) – tiền lương phải trả cho NV phòng ban quản lí
          Có TK 334 – tổng số lương phải trả
2.      Tiền thưởng phải trả cho người lao động, ghi:
Nợ TK 353(3531) – thưởng thi đua từ quỹ khen thưởng
Nợ TK 622,627,641,642 – thưởng tính vào chi phí kinh doanh
Có TK 334 – tổng số thưởng phải trả
3.      Trích BHXH, BHYT, KPCĐ hàng tháng , ghi:
Nợ TK 627,622,641,642… – phần tính vào chi phí SX, KD
                     Nợ TK 334 – phần trừ vào thu nhập của người lao động
           
Có TK 338(3382,3383,3384) – theo tổng các khoản KPCĐ,
                                                             BHXH, BHYT phải trích lập
4.      BHXH phải trả người lao động:
         Trường hợp doanh nghiệp được giữ lại một phần BHXH để trực tiếp chi tại doanh nghiệp, thì số phải trả trực tiếp cho công nhân viên, kế toán ghi sổ theo định khoản:
Nợ TK 338 (3383)
          Có TK 334 – phải trả người lao động
         Trường hợp doanh nghiệp phải nộp toàn bộ số trích BHXH cho cơ quan BHXH, doanh nghiệp có thể chi hộ (ứng hộ) cơ quan BHXH để chi trả cho công nhân viên và thanh quyết toán các khoản kinh phí này đối với cơ quan BHXH, kế toán ghi sổ:
Nợ TK 138 (1388)
           Có TK 334 – phải trả người lao động
5.      Các khoản khấu trừ vào thu nhập của công nhân viên, ghi:
Nợ TK 334 – phải trả NLĐ: tổng số các khoản khấu trừ
Có TK 333 (3338)
Có TK 141,138…
6.      Thanh toán tiền lương cho công nhân viên, ghi:
         Nếu thanh toán bằng tiền:
Nợ TK 334 – phải trả người lao động
Có TK 111,112
         Nếu thanh toán bằng vật tư, hàng hóa:
+ Giá vốn của vật tư, hàng hóa:
Nợ TK 632 – giá vốn vật tư, hàng hóa
Có TK 152,153,154,155
+ Ghi nhận giá thanh toán:
Nợ TK 334 – phải trả người lao động
Có TK 512 – doanh thu nội bộ
Có TK 3331 – thuế GTGT phải nộp
7.      Chuyển tiền nộp BHXH, BHYT,KPCĐ, ghi:
Nợ TK 338 (3382,3383,3384) – phải trả, phải nộp khác
            Có TK 111,112
8.      Chi tiêu kinh phí công đoàn để lại cho doanh nghiệp, ghi:
Nợ TK 338 (3382)
             Có TK 111,112
9.      Đến hết kì trả lương còn công nhân viên chưa lĩnh lương, kế toán chuyển các khoản lương chưa lĩnh thành các khoản phải trả, phải nộp khác, ghi:
Nợ TK 334 – phải trả người lao động
Có TK 338 (3388)
10. Khoản kinh phí công đoàn vượt chi được cấp bù, khi nhận được kế toán ghi :
Nợ TK 111,112
            Có TK 338 – phải trả phải nộp khác
11. Đối với những doanh nghiệp sản xuất, để đảm bảo sự ổn định của giá thành sản phẩm, doanh nghiệp có thể trích trược tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất tính vào chi phí sản xuất sản phẩm, coi như một khoản chi phí phải trả. Mức trích được tính như sau:
         Khi trích trước tiền lương nghỉ phép, kế toán ghi:
Nợ TK 622 – chi phí nhân công trực tiếp
      Có TK 335 – chi phí phải trả
         Thực tế chi trả lương nghỉ phép, kế toán ghi:
 Nợ TK 335 – chi phí phải trả
      Có TK 334 – phải trả người lao động

  sanghv


Comments

comments

Powered by Facebook Comments

0

Lý luận chung về công tác vốn bằng tiền trong doanh nghiệp

1.2.1.  Khái niệm và phân loại vốn bằng tiền

·        Vốn bằng tiền:
Vốn bằng tiền là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thuộc tài sản lưu động được hình thành chủ yếu trong quá trình bán hàng và trong thanh toán.
·        Vốn bằng tiền của doanh nghiệp bao gồm:
Ø  Tiền mặt tồn quỹ
Ø  Tiền gửi ngân hàng
Ø  Tiền đang chuyển
Ø  Khoản phải thu của khách hàng
Ø  Phải thu nội bộ
Ø  Phải thu khác
Ø  Tạm ứng
·        Phân loại vốn bằng tiền
Ø  Theo hình thức tồn tại thì vốn bằng tiền bao gồm:
+ Tiền Việt Nam: Đây là loại giấy bạc và đồng xu do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành và được sử dụng làm phương tiện giao dịch chính thức với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Ngoại tệ: là loại giấy bạc không phải do Ngân hàng Nhà nước phát hành nhưng được phép lưu hành trên thị trường Việt Nam, bao gồm: đồng Đô la Mỹ (USD), đồng tiền chung Châu Âu (EURO), đồng yên Nhật (JPY)…
+ Vàng bạc, kim khí quý, đá quý: là loại tiền thực chất, tuy nhiên loại tiền này không có khẳ năng thanh khoản cao. Nó được sử dụng chủ yếu vì mục đích cất trữ. Mục tiêu đảm bảo một lượng dự trữ an toàn trong nền kinh tế hơn là vì mục đích thanh toán trong kinh doanh.
Ø  Theo trạng thái tồn tại thì vốn bằng tiền bao gồm:
+ Vốn bằng tiền được bảo quản tại quỹ của doanh nghiệp gọi là tiền mặt.
+ Tiền gửi tại các ngân hàng, các tổ chức tài chính, kho bạc nhà nước gọi chung là tiền gửi ngân hàng.
+ Tiền đang chuyển: là tiền trong quá trình trao đổi mua bán với khách hàng và nhà cung cấp.

1.2.2.  Nguyên tắc hạch toán kế toán vốn bằng tiền

·        Đặc điểm của công tác kế toán vốn bằng tiền như sau:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn bằng tiền được sử dụng để đáp ứng nhu cầu về thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc mua sắm các loại vật tư hàng hóa phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Đồng thời vốn bằng tiền cũng là kết quả của việc mua bán và thu hồi các khoản nợ. Chính vì vậy, quy mô vốn bằng tiền đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lí hết sức chặt chẽ do vốn bằng tiền có tính thanh khoản cao, nên nó là đối tượng của gian lận và sai sót. Vì vậy việc sử dụng vốn bằng tiền phải tuân thủ các nguyên tắc, chế độ quản lí thống nhất của Nhà nước chẳng hạn: lượng tiền mặt tại quỹ của doanh nghiệp dùng để chi tiêu hàng ngày không vượt quá mức tồn quỹ mà doanh nghiệp và ngân hàng đã thỏa thuận theo hợp đồng thương mại…
·        Các nguyên tắc kế toán vốn bằng tiền
+ Sử dụng đơn vị tiền tệ thống nhất là đồng Việt Nam
+ Các loại ngoại tệ phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo quy định và được theo dõi chi tiết riêng từng nguyên tệ trên TK 007 “Ngoại tệ các loại”.
+ Các loại vàng bạc, đá quý, kim khí quý phải được đánh giá bằng tiền tệ tại thời điểm phát sinh theo giá thực tế (nhập, xuất ) ngoài ra phải theo dõi chi tiết số lượng, quy cách và phẩm chất của từng loại.
+ Vào cuối kỳ, kế toán phải điều chỉnh lại các loại ngoại tệ theo giá thực tế.
Thực hiện đúng các nguyên tắc trên thì việc hạch toán vốn bằng tiền sẽ giúp doanh nghiệp quản lí tốt về các loại vốn bằng tiền của mình. Đồng thời doanh nghiệp còn chủ động trong kế hoạch thu chi, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên, liên tục.
·        Nhiệm vụ của kế toán vốn bằng tiền
– Phản ánh chính xác, kịp thời những khoản thu, chi và tình hình tăng
giảm, thừa thiếu của từng loại vốn bằng tiền.
– Kiểm tra thường xuyên tình hình thực hiện chế độ sử dụng và quản lí vốn bằng tiền, kỉ luật thanh toán, kỉ luật tín dụng. Phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng tham ô và lợi dụng tiền mặt trong kinh doanh.
-Hướng dẫn và kiểm tra việc ghi chép của thủ quỹ. Kiểm tra thường xuyên, đối chiếu số liệu của thủ quỹ với kế toán tiền mặt để đảm bảo tính cân đối thống nhất.

1.2.3.  Quy trình kế toán vốn bằng tiền trong doanh nghiệp

1.2.3.1.          Kế toán tiền mặt tại quỹ

1.2.3.1.1.    Trình tự lập và luân chuyển chứng từ thu chi tiền mặt
·        Khái niệm và nhận định về tiền mặt
+ Tiền mặt là số vốn bằng tiền do thủ quỹ bảo quản tại quỹ (két)) của doanh nghiệp bao gồm: Tiền Việt nam,  ngoại tệ, vàng bạc, đá quý,kim khí quý, tín phiếu và ngân phiếu.
+ Trong mỗi doanh nghiệp đều có một lượng tiền mặt nhất định tại quỹ để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của mình. Số tiền thường xuyên tồn quỹ phải được tính toán định mức hợp lý, mức tồn quỹ này tuỳ thuộc vào quy mô, tính chất hoạt động, ngoài số tiền trên doanh nghiệp phải gửi tiền vào Ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính khác.
·        Trình tự lập và luân chuyển chứng từ trong kế toán chi tiền mặt
Các bộ phận tham gia lập và luân chuyển chứng từ:
– Người nhận tiền                       – Kế toán tiền mặt
– Bộ phận duyệt chi                   – Kế toán trưởng
– Bộ phận kế toán liên quan     – Thủ quỹ
 Bộ phận liên quan (người nộp tiền) xuất trình các chứng từ chi tiền mặt cho bộ phận duyệt chi kiểm tra tính hợp lệ, hợp lý của chứng từ để chấp nhận các chứng từ đó hay loại bỏ.
 Khi bộ phận duyệt chi chấp nhận Kế toán chi tiền mặt viết phiếu chi (3 liên) trình Kế toán trưởng sau đó nhận lại phiếu chi, Kế toán tiền mặt lưu lại liên 1, chuyển 2 liên còn lại cho thủ quỹ (liên 2, liên 3).
 Thủy quỹ chi tiền mặt và ký vào liên 2, liên 3. Người nhận tiền ký vào phiếu chi giữ lại liên 3, còn liên 2 thủ quỹ giữ lại để ghi vào sổ quỹ.
 Thủy quỹ chuyển liên 2 cho bộ phận Kế toán tiền mặt, Kế toán tiền mặt ghi sổ và chuyển phiếu chi (liên 2) cho bộ phận kế toán liên quan, sau đó lưu chứng từ ở bộ phận Kế toán tiền mặt.
·        Trình tự lập và luân chuyển chứng từ trong kế toán thu tiền mặt.
Các bộ phận tham gia luân chuyển chứng từ:
–  Người nộp tiền                                                – Kế toán trưởng
–  Kế toán tiền mặt                                  – Thủ quỹ
–  Bộ phận kế toán liên quan.
Người nộp tiền chuyển tiền chi Kế toán tiền mặt, Kế toán tiền mặt kiểm tra tính hợp lệ (Hóa đơn bán hàng, bảng kê hóa đơn bán hàng…) sau đó kiểm tiền, nếu đủ thì viết phiếu thu (3 liên), trình kế toán trưởng kí xong nhận lại phiếu thu. Kế toán tiền mặt lưu lại liên 1, chuyển 2 liên còn lại (liên 2, liên 3) cho thủ quỹ.
Thủ quỹ nhận phiếu thu (liên 2, liên 3), kiểm tiền và nhập quỹ tiền mặt sau đó ký vào liên 2, 3 đưa cho người nộp tiền mặt 1 liên, giữ lại 1 liên.
Khi người nộp tiền đã nộp đủ số tiền, thủ quỹ ghi vào sổ quỹ, đến cuối ngày thủ quỹ chuyển chứng từ còn lại cho Kế toán tiền mặt (phải lập phiếu giao nhận chứng từ), Kế toán tiền mặt ghi xong rồi chuyển chứng từ đó cho bộ phận có liên quan. Bộ phận liên quan ghi xong sẽ trả chứng từ về cho Kế toán tiền mặt giữ. Lưu phiếu thu ở bộ phận Kế toán tiền mặt.
1.2.3.1.2.     Hạch toán tiền tại quỹ
·        Chứng từ hạch toán
Phiếu thu (Mẫu 01-TT)
Phiếu chi (Mẫu 02-TT)
Giấy đề nghị tạm ứng (Mẫu 03-TT)
Giấy thanh toán tiền tạm ứng (Mẫu 04-TT)
Giấy đề nghị thanh toán (Mẫu 05-TT)
Biên lai thu tiên (Mẫu 06-TT)
Bảng kê vàng bạc, đá quý
Bảng kiểm kê quỹ                        Bảng kê chi tiền
·        Trình tự hạch toán nghiệp vụ chủ yếu
Trình tự hạch toán một số nghiệp vụ thu chi tiền mặt được khái quát trong sơ đồ dưới đây:
SƠ ĐỒ KẾ TOÁN TIỀN MẶT
     

1.2.3.2.          Kế toán tiền gửi ngân hàng

·        Khái niệm về tiền gửi ngân hàng
Tiền gửi là số tiền mà doanh nghiệp gửi tại các ngân hàng, kho bạc Nhà nước  hoặc các công ty tài chính bao gồm tiền Việt Nam, các loại ngoại tệ, vàng bạc đá quý…
Chứng từ sử dụng
Giấy báo có                             – ủy nhiệm thu
Giấy báo nợ                             – Séc chuyển khoản
ủy nhiệm chi                            – Séc bảo chi
   Khi nhận được các chứng từ do ngân hàng gửi đến, kế toán phải tiến hành kiểm tra đối chiếu với chứng từ gốc kèm theo. Trường hợp có sự chênh lệch giữa số liệu kế toán của đơn vị với ngân hàng thì kế toán đơn vị phải thông báo cho ngân hàng để cùng đối chiếu, xác minh và xử lý kịp thời. Nếu đến cuối tháng vẫn chưa xác minh rõ nguyên nhân thì sẽ ghi sổ theo số liệu trên giấy báo có hoặc bản sao kê cuat ngân hàng. Sang tháng sau tiếp tục kiểm tra đối chiếu tìm nguyên nhân để điều chỉnh số liệu đã ghi sổ.
   Kế toán Tiền gửi ngân hàng phải theo dõi chi tiết từng loại tiền gửi (VND, Ngoại tê, vàng bạc, đá quý) và chi tiết theo từng ngân hàng để tiện việc kiểm tra đối chiếu.
   Kế toán sử dụng Tài khoản 112 “Tiền gửi Ngân hàng” để phản ánh tình hình tăng giảm và số hiện có về các khoản tiền gửi của doanh nghiệp, TK 112 có kết cấu như sau:
   Bên Nợ : Các khoản tiền gửi tăng
Bên Có : Các khoản tiền gửi giảm
   Số dư bên Nợ :Số tiền gửi hiện còn gửi ở các ngân hàng
Tài khoản 112 được mở 3 tài khoản cấp 2:
Tài khoản 1121- Tiền Việt Nam
Tài khoản 1122- Ngoại tệ
Tài khoản 1123- Vàng bạc, kim khí quý, đá quý
Ngoài ra kế toán còn sử dụng nhiều tài khoản liên quan khác..
Trình tự hạch toán một số nghiệp vụ chủ yếu được khái quát như sơ đồ
·        Sơ đồ hạch toán tiền gửi ngân hàng
SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN TIỀN GỬI NGÂN HÀNG

1.2.3.3.          Kế toán tiền đang chuyển

·        Khái niệm tiền đang chuyển
Tiền đang chuyển là khoản tiền mặt, tiền séc đã xuất khỏi quỹ của doanh nghiệp đã nộp vào Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước, đã gửi vào Bưu điện để trả cho đơn vị khác nhưng chưa nhận được giấy báo của Ngân hàng.
Tiền đang chuyển gồm tiền Việt nam và ngoại tệ đang chuyển trong các trường hợp sau đây:
   – Thu tiền mặt hoặc nộp séc nộp thẳng vào Ngân hàng
   – Chuyển tiền qua bưu điện để trả cho đơn vị khác
   – Thu tiền bán hàng nộp thuế nagy cho Kho bạc Nhà nước.
Để theo dõi các khoản tiền đang chuyển, kế toán sử dung Tài khoản 113- Tiền đang chuyển. Kết cấu của tài khoản này như sau
   Bên Nợ : Các khoản tiền Việt nam, ngoại tệ, séc đã nộp vào Ngân hàng, gửi qua bưu điện và số chênh lệch tăng tỷ giá ngoại tệ cuối kỳ do đánh giá lại.
   Bên Có: Số kết chuyển vào TK 112 hoặc các tài khoản liên quan và số chênh lệch giảm tỷ giá  ngoại tệ cuôí kỳ do đánh giá lại số dư ngoại tệ .
   Số dư bên Nợ: Các khoản tiền còn đang chuyển.
   Tài khoản 113 – Tiền đang chuyển được mở 2 tài khoản cấp 2:
– Tài khoản 1131 – Tiền Việt nam
                           – Tài khoản 1132 – Ngoại tệ
·        Trình tự kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu
SƠ ĐỒ KẾ TOÁN TIỀN ĐANG CHUYỂN

1.2.3.4.           Phải thu của khách hàng

Những vấn đề về phải thu của khách hàng
Quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với khách hàng phát sinh chủ yếu trong quá trình bán sản phẩm, vật tư, hàng hoá, cung cấp lao vụ dịch vụ, bàn giao thanh toán khối lượng thi công mà khách hàng đã nhận  của doanh nghiệp nhưng chưa thanh toán tiền.
   Khi hạch toán các khoản phải thu của khách hàng cần tôn trọng các quy định sau đây:
– Phải mở sổ chi tiết theo từng đối tượng phải thu và theo từng khoản nợ và từng lần thanh toán.
– Trường hợp bán hàng thu tiền ngay thì không phản ánh vào tài khoản này.
– Những khách hàng có quan hệ giao dịch thường xuyên hoặc có dư nợ lớn thì định kỳ cần phải tiến hành kiểm tra đối chiếu từng khoản nợ đã phất sinh, đã thu hồi và số còn nợ.nếu cần có thể yêu cầu khách hàng xác nhận nợ bằng văn bản.
– Phải tiến hành phân loại Nợ:  Loại Nợ có thể trả đúng hạn, quá hạn, nợ khó đòi hoặc không có khả năng thu hồi để có căn cứ xác định số trích lập dự phòng hoặc có biện pháp xử lý đối với khoản nợ phải thu không đồi được.
– Trong quan hệ bán sản phẩm xây lắp, thành phẩm, hàng hoá, dịch vụ lao vụ sản phẩm theo sự thoả thuận giữa doanh nghiệp xây lắp và khách hàng nếu không đúng theo thoả thuận trong hợp đồng kinh tế thì nười mua có thể yêu cầu các doanh nghiệp xây lắp giảm giá hoặc trả lại số hàng đã giao.
– Khoản phải thu về phí chờ quyết toán của từng công trình phải được theo dõi chi tiết theo từng công trình xây dựng, khoản phí này là căn cứ để tính số trích trước về chi phí bảo hành công trình xây dựng vào chi phí bán hàng.
Tài khoản sử dụng : TK 131 –Phải thu của khách hàng
Bên Nợ :  – Só tiền phải thu của khách hàng về sản phẩm đã giao, dịch vụ lao vụ đã hoàn thành được xác định là tiêu thụ (Kể cả phí bảo hành bên A giữ lại)
          – Số tiền thừa trả lại cho khách hàng
Bên Có :  –  Số tiền khách hàng đã trả nợ
          – Số tiền đã nhận ứng trước, trả trước của khách hàng
          – Khoản giảm giá hàng bán sau khi đã giao hàng khách hàng có khiếu    nại, doanh thu của số hàng đã bán bị người mua trả lại.
         – Số thực thu về phí bảo hành công trình; xử lý số phí bảo hành công trình  không thu được
Số dư bên Nợ: Số tiền còn phải thu của khách hàng
Tài khoản này có thể số dư bên Có phản ánh số tiền nhận trước, hoặc số đã thu nhiều hơn số phải thu của khách hàng theo chi tiết của từng đối tượng cụ thể.
Trình tự kế toán phải thu của khách hàng
+ Doanh thu của khối lượng xây, lắp hoàn thành bàn giao trong kỳ, hàng hoá xuất bán, dịch vụ đã cung cấp được xác định là tiêu thụ kế toán phản ánh số tiền phải thu nhưng chưa thu
   Nợ TK 131 – Phải thu của khách hàng (Tổng giá thanh toán)
               Có TK 511, 512 – Doanh thu chưa có thuế GTGT
               Có TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp
+ Số tiền nhượng bán, thanh lý TSCĐ chưa thu được:
   Nợ TK 131- Phải thu của khách hàng (Tổng giá thanh toán)
               Có TK 711 – Thu nhập khác (Giá chưa có Thuế GTGT)
               Có TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp
+ Doanh thu của khối lượng hàng hoá bị khách hàng trả lại:
   Nợ TK 531- Hàng bán bị trả lại ( Doanh số chưa có thuế GTGT)
   Nợ TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp
               Có TK 131- Phải thu của khách hàng
+ Căn cứ vào văn bản xác nhận số hàng được giảm giá cho khách hàng về số hàng không phù hợp với quy cách, chất lương
   Nợ TK 532 –  Giảm giá hàng bán (Số tiền giảm giá chưa có thuế GTGT)
   Nợ TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp
               Có TK 131 hoặc TK 111,112,
+ Khi nhận được tiền do khách hàng trả ( Kể cả số lãi của số nợ nếu có, hoặc lãi trả chậm) liên quan đến sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ, ghi:
   Nợ TK 111,112 – Tiền mặt, tiền gửi
               Có TK 131 – Phải thu của khách hàng
               Có TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính (Phần lãi)
+ Khoản chiết khấu thanh toán phải trả cho người mua, do người mua thanh toán sớm tiền mua hàng trước thời hạn quy định trừ vào khoản nợ phải thu:
   Nợ TK 111,112 – Số tiền đã trả
   Nợ TK 635 – Chi phí hoạt động tài chính (số chiết khấu thanh toán)
               Có TK 131- Phải thu của khách hàng
+ Trường hợp khách hàng thanh toán theo phương thức hàng đổi hàng
   Nợ TK 152, 153, 156, 611 – Giá mua chưa có thuế GTGT
   Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ
               Có TK 131 – Phải thu của khách hàng
+ Nhận tiền ứng trước trả trước của khách hàng theo hợp đồng:
   Nợ TK 111,112 – Số tiền ứng trước
               Có TK 131 – Phải thu của khách hàng
+ Nếu có khoản Nợ phải thu khó đòi thực sự không  thể đòi được, phải xử lý xoá sổ, căn cứ vào biên bản xử lý xoá nợ, ghi:
   Nợ TK 139 – Dự phòng Nợ phải thu khó đòi (nếu đã lập dự phòng)
   Nợ TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp (Nếu chưa lập dự phòng)
               Có TK 131 – Phải thu của khách hàng

1.2.3.5.          Phải thu khác

·        Khái niệm
+ Các khoản phải thu khác :
Là khoản phải thu ngoài các khoản phải thu của khách hàng, phải tghu nội bộ bao gồm:
– Các khoản về bồi thường vật chất  do các cá nhân, tập thể trong hoặc ngoài đơn vị gây ra.
– Các khoản phải thu do đơn vị cho vay, mượn vật tư, tiền vốn tạm thời.
– Giá trị các tài sản thừa đã phát hiện nhưng chưa xác định được nguyên nhân còn chờ xử lý
– Các khoản phải thu ở công nhân viên về tiền nhà điện nước, bảo hiểm y tế mà người lao động phải đóng góp, phải thu hộ người lao động cho toà án và các án dân sự, thu khác như phí, lệ phí
– Các khoản chi phí đã chi vào hoạt động sự nghiệp, chi đầu tư  XDCB, chi cho SXKD  nhưng chưa được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phải thu hồi chờ xử lý.
 Tài khoản kế toán :
 Sử dụng TK 138 – Phải thu khác
 Nội dung tài khoản phản ánh các khoản Nợ và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu ngoài phạm vi đã phản ánh ở các TK 131, 136
   – Bên Nợ      + Giá trị tài sản thiếu còn chờ giải quyết
                            + Các khoản phải thu khác
   – Bên Có      + Gía trị tài sản thiếu đã được xử lý
                                + Số tiền thu được thuộc nợ phải thu khác
   – Số dư bên Nợ : Các khoản nợ khác còn phải thu
   – TK được mở 2 tài khoản cấp 2:
                         +  TK 1381 – Tài sản thiếu chờ xử lý
                           +  TK 1388 – Phải thu khác
Trình tự nghiệp vụ kế toán chủ yếu
Ø  Kế toán tài sản thiếu chờ xử lý (1381)
Về nguyên tắc chỉ hạch toán vào TK này giá trị tài sản thiếu mất, hư hỏng chưa xác định được nguyên nhân còn chờ quyết định xử lý
– Trường hợp TSCĐ hữu hình phát hiện thiếu, mất chưa rõ nguyên nhân còn chờ quyết định xử lý, ghi:  
                              Nợ TK 1381 – Giá trị còn lại
                                       Nợ TK 241 – Giá trị hao mòn
                                                   Có TK 211 – Nguyên giá
Đồng thời ghi giảm TSCĐ trên sổ kế toán chi tiết
– vật tư, hàng hoá mất mát, hao hụt chưa xác định nguyên nhan còn chờ xử lý:
                          Nợ TK 1381 – Tài sản thiếu còn chờ xử lý
                                      Có TK 151,152, 153,154, 155,156
– Khi  có quyết định xử lý của các cấp có thẩm quyền, ghi:
                         Nợ TK 111, 112, 334 – Phần cá nhân, tổ chức phải bồi thường
                         Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
                                     Có TK 1381 – Tài sản thiếu chờ xử lý
Ø  Kế toán các khoản phải thu khác (1388)
– Trường hợp tài sản thiếu, mất mát đã xác định được nguyên nhân và người chịu trách nhiệm bồi thường:
                      Nợ TK 1388  – Số tiền phải bồ thường
                                  Có các TK 151,152,153,154,155,156, 111
– Các khoản cho vay mượn vật tư, tiền vốn tạm thời không tính lãi
                     Nợ TK 1388 – Phải thu khác
                                 Có các TK 111, 112, 152, 153,…
– Các khoản doanh thu của hoạt động tài chính, hoạt động khác được thu nhưng chưa thu được như cho thuê TSCĐ, lãi đầu tư, tiền phạt, bồi thường
                      Nợ TK 1388 – Phải thu khác
                                Có TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính
                                Có TK 711 – Thu nhập khác
+ Khi thu hồi được các khoản phải thu khác bằng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng:
                     Nợ TK 111, 112
                               Có TK 1388 – Phải thu khác

1.2.3.6.          Tạm ứng

·        Khái niệm
Tạm ứng là việc cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp ứng trứoc một khoản tiền hoặc vật tư để thưch hiện nhiệm vụ SXKD hoặc giải quyết một công việc đã đợc phê duyệt.
Kế toán tạm ứng cần tôn trọng một số quy định sau đây:
– Người nhận tạm ứng phải là công nhân viên chức hoặc người lao động làm việc tại doanh nghiệp, đối với những người nhận tạm ứng thường xuyên (Thuộc bộ phận cung ứng vật tư, quản trị, hành chính) phải được giám đốc chỉ định.
– Người nhận tạm ứng (cá nhân hay tập thể) phải chịu trách nhiệm với doanh nghiệp về số đã  nhận tạm ứng và chỉ được sử dụng tạm ứng theo đúng mục đích và nội dung công việc đã được phê duyệt.Số tiền tạm ứng dùng không hết phải nộp lại quỹ, nghiêm cấm chuyển tiền tạm ứng cho người khác sử dụng
– Kế toán phải mở số kế toán chi tiết theo dõi  cho từng đối tượng nhận tạm ứng, theo nội dung tạm ứng ghi chép đầy đủ tình hình nhận, thanh toán tạm ứng theo từng lần tạm ứng.
Tài khoản sử dụng: Tài khoản 141 – Tạm ứng
   Bên Nợ :
– Các khoản tiền đã tạm ứng cho công nhân viên, người lao động
– Các khoản tạm ứng để thực hiện khối lượng xây lắp nội bộ
   Bên Có:
– Số tạm ứng đã thanh toán
– Số tạm ứng chi không hết nhập lại quỹ hoặc trừ vào lương
   Số dư bên Nợ: Số tiền tạm ứng chưa thanh toán
·        Trình tự kế toán
+ Khi nhận tạm tứng bằng tiền mặt, séc cho cán bộ đi công tác hoặc mua vật tư, hàng hoá, dịch vụ lao vụ:
                        Nợ TK 141 – Tạm ứng
                                   Có TK 111, 112, Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
+ Khi chi tiêu xong, người nhận tạm ứng lập bảng kê thanh toán tạm ứng kèm theo các chứng gốc liên quan.Kế toán kiểm tra chứng từ, căn cứ vào bảng kê thanh toán đã đựoc duyệt, ghi:
                       Nợ TK 142- Chi phí trả trước, hoặc:
                       Nợ TK 151,152, 153, 156
                       Nợ TK 211, 213, 241,
                       Nợ TK 331,
                       Nợ TK 611, 623, 627, 641, 642
                       Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ
                                    Có TK 141 – Tạm ứng
+ Các khoản tạm ứng chi không hết, phải nhập  quỹ hoặc trù vào lương của người nhận tạm ứng, ghi:
                       Nợ TK 111 – Tạm ứng
                           Nợ TK 334 – Phải trả công nhân viên
                                   Có TK 141 – Tạm ứng
+ Trường hợp số thực chi đã duyệt lớn hơn ssó đã tạm ứng, kế toán lập phiếu chi để thanh toán thêm cho người nhận tạm ứng
                      Nợ TK 141-Tạm ứng
               Có TK 111 – Tiền mặt

1.2.3.7.          Kế toán khoản phải trả người bán

·        Khái niệm
Phải trả người bán là khoản tiền mà doanh nghiệp dùng để chi trả cho nhà cung cấp để mua máy móc trang thiết bị dùng cho hoạt động của công ty.
·        Nghiệp vụ chủ yếu
+ Thanh toán các khoản nợ phải trả cho người bán kế toán ghi:
  Nợ TK 331
   Có TK liên quan (111,112, 311)
 + Mua tài sản, bất động sản đầu tư, kế toán hạch toán
  Nợ TK 211, 217
               Có TK 331

Việc thực hiện các nghiệp vụ khác có liên quan được hạch toán khá chi tiết và theo dõi đầy đủ.
sanghv


Comments

comments

Powered by Facebook Comments

0

Hệ thống thông tin kế toán

Posted by sanghv on 14/05/2011 in Economic Infomation System Development |

1.1.1.  HTTT kế toán và vai trò của nó trong doanh nghiệp

·        HTTT kế toán
Thông tin là một yếu tố quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mọi tổ chức nói chung, của doanh nghiệp nói riêng; nhất là trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt, thông tin cần phải được tổ chức thành một hệ thống khoa học, giúp cho các nhà quản lý có thể khai thác thông tin một cách triệt để.
Hệ thống thông tin được xác định như một tập hợp các thành phần được tổ chức để thu thập, xử lí, lưu trữ, phân phối và biểu diễn thông tin và thông tin trợ giúp việc ra quyết định và kiểm soát trong một tổ chức. HTTT còn giúp các nhà quản lí phân tích chính xác hơn các vấn đề, nhìn nhận một cách trực quan những đối tượng phức tạp, tạo ra các sản phẩm mới.
Hệ thống thông tin quản lý là sự phát triển và sử dụng Hệ thống thông tin có hiệu quả trong một tổ chức. trợ giúp các hoạt động quản lý của tổ chức như lập kế hoạch, kiểm tra thực hiện, tổng hợp và  làm các báo cáo, làm cho các quyết định của quản lý trên cơ sở các quy trình, thủ tục cho trước. Nó sử dụng thông tin đầu vào là các hệ xử lý giao dịch và cho ra thông tin đầu ra là các báo cáo định kì hay theo yêu cầu.
 Ứng dụng HTTT và công nghệ có liên quan tới doanh nghiệp là một đối tượng rất rộng. Xem xét tính đa dạng của một doanh nghiệp và phạm vi công nghệ của những hệ thống thông tin hỗ trợ cho chúng. Có vô số những ứng dụng có thể áp dụng. Ứng dụng HTTT quản lý trong doanh nghiệp như:
– HTTT quản lý tiền lương.
– HTTT quản lý nhân sự.
– HTTT quản lý vật tư.
– HTTT kế toán.
Hệ thống thông tin kế toán là một hệ thống được tổ chức để thu thập, lưu trữ, xử lý, phân phối thông tin trong lĩnh vực kinh tế, tài chính dựa vào công cụ máy tính và các thiết bị tin học để cung cấp các thông tin cần thiết cho quá trình ra quyết định để quản lý, điều hành hoạt động tác nghiệp của tổ chức, xí nghiệp, doanh nghiệp.
·        Vai trò của HTTT kế toán trong doanh nghiệp
– Do tính chất và quy mô hoạt động của nhiều tổ chức, doanh nghiệp ngày càng mở rộng dẫn đến lượng dữ liệu của các hoạt động kinh tế, tài chính tăng nhanh. Điều này đã gây nhiều khó khăn trong công tác tổ chức lưu trữ dữ liệu và xử lý dữ liệu nhằm cung cấp các thông tin hữu ích, kịp thời cho quá trình ra quyết định của các lãnh đạo doanh nghiệp.
– Hệ thống thông tin kế toán đóng vai trò to lớn nhằm giải quyết những khó khăn trên và tạo cầu nối giữa hệ thống quản trị và hệ thống tác nghiệp cho các tổ chức, doanh nghiệp. Vai trò chủ yếu của HTTTKT là thu thập và lưu trữ các thông tin kinh tế tài chính cho tổ chức, doanh nghiệp; Thống kê, tổng hợp, xử lý thông tin nhằm đưa ra các báo cáo cần thiết cho lãnh đạo tổ chức, doanh nghiệp. HTTTKT giảm chi phí trong lưu trữ và xử lý các thông tin tác nghiệp của doanh nghiệp, đồng thời, giảm thời gian và các sai sót trong lưu trữ và xử lý các thông tin tác nghiệp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả và thúc đẩy nhanh quá trình phát triển của tổ chức, doanh nghiệp.
Bởi các vai trò quan trọng trên, cần thiết phải phát triển HTTT kế toán tại các doanh nghiệp.

1.1.2.  Vòng đời phát triển của một HTTT kế toán

HTTT được xây dựng là sản phẩm của một loạt các hoạt động được gọi là phát triển hệ thống. Quá trình phát triển một HTTT kể từ lúc nó sinh ra đến khi nó tàn lụi được gọi là vòng đời phát triển hệ thống. Vòng đời phát triển hệ thống là một phương pháp luận cho việc phát triển các HTTT.
Vòng đời phát triển của một HTTT được mô tả bằng sơ đồ dưới đây:

1.1.2.1.          Khảo sát và lập kế hoạch phát triển dự án

   Hai hoạt động chính trong khởi tạo và lập kế hoạch dự án là:
– Phát hiện ban đầu chính thức về những vấn đề của hệ thống và các cơ hội của nó, trình bày rõ lí do vì sao tổ chức cần hay không cần phát triển HTTT.
– Tiếp đến là xác định phạm vi cho hệ thống dự kiến.

1.1.2.2.          Phân tích hệ thống

Phân tích hệ thống nhằm để xác định nhu cầu thông tin của tổ chức, nó cung cấp những dữ liệu cơ sở cho việc thiết kế HTTT sau này, bao gồm các công việc.
– Xác định và phân tích yêu cầu: Chính là những gì mà người sử dụng mong đợi hệ thống sẽ mang lại.
– Nghiên cứu yêu cầu và cấu trúc nó phù hợp với mối quan hệ bên trong, bên ngoài và những giới hạn đặt lên các dịch vụ cần thực hiện.
– Tìm các giải pháp cho các thiết kế ban đầu để đạt được yêu cầu đặt ra, so sánh để lựa chọn giải pháp thiết kế tốt nhất đáp ứng các yêu cầu với chi phí, nguồn lực, thời gian và kỹ thuật cho phép để tổ chức thông qua.

1.1.2.3.          Thiết kế hệ thống

Thiết kế hệ thống chính là quá trình tìm ra các giải pháp công nghệ thông tin để đáp ứng các yêu cầu đặt ra ở trên.
– Thiết kế logic: Thiết kế hệ thống logic không gắn với bất kì hệ thống phần cứng và phần mềm nào. Nó tập trung vào các khía cạnh nghiệp vụ của hệ thống thực.
– Thiết kế vật lý: Là quá trình chuyển mô hình logic trừu tượng thành bản thiết kế hay các đặc tả kĩ thuật. Những phần khác nhau của hệ thống được gắn vào những thao tác và thiết bị vật lý cần thiết để tiện lợi cho việc thu thập dữ liệu, xử lý và đưa ra thông tin cần thiết cho tổ chức.
Giai đoạn này phải lựa chọn ngôn ngữ lập trình, hệ cơ sở dữ liệu, cấu trúc tệp, tổ chức dữ liệu, những phần cứng, hệ điều hành và môi trường mạng cần được xây dựng. Sản phẩm cuối cùng của pha thiết kế là đặc tả hệ thống ở dạng như nó tồn tại trên thực tế, sao cho nhà lập trình và kỹ sư phần cứng có thể dễ dàng chuyển thành chương trình và cấu trúc hệ thống vận hành trên thực tế.

1.1.2.4.          Cài đặt hệ thống

– Tạo lập các chương trình :
  + Trước hết cần lựa chọn phần mềm nền (Hệ điều hành, hệ quản trị cơ sở dữ liệu, ngôn ngữ lập trình, phần mềm mạng).
  + Chọn các phần mềm đóng gói cho những phần thiết kế tương ứng.
  + Chuyển các đặc tả thiết kế thành các chương trình cho máy tính.
  + Kiểm thử hệ thống .
– Cài đặt và chuyển đổi hệ thống
  + Cài đặt phần cứng để làm cơ sở cho hệ thống.
  + Cài đặt phần mềm.
  + Chuyển đổi hoạt động của hệ thống cũ sang hệ thống mới, gồm có: chuyển đổi dữ liệu, bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ trên hệ thống mới và đào tạo người sử dụng, khai thác hệ thống.
  + Chuẩn bị các tài liệu chi tiết thuyết minh về việc khai thác và sử dụng hệ thống để phục vụ việc đào tạo và đảm bảo hoạt động hàng ngày (bảo trì) của hệ thống sau này.

1.1.2.5.          Kiểm thử hệ thống

– Kiểm thử hệ thống: Kiểm tra cấu trúc logic của hệ thống có thỏa mãn đặc tả yêu cầu trong phân tích, thiết kế. Bao gồm:
  + Kiểm thử chức năng – giao diện
  + Kiểm thử thi hành/ hiệu năng
  + Kiểm thử phục hồi
  + Kiểm thử chịu tải
  + Kiểm thử an toàn, bảo mật
– Kiểm thử chấp nhận: Thử nghiệm hệ thống để xác định hệ thống có thỏa mãn các yêu cầu của người dùng.

1.1.2.6.          Vận hành và bảo trì hệ thống

Trong giai đoạn vận hành, người sử dụng và các chuyên viên kỹ thuật vận hành cần đánh giá xem hệ thống đáp ứng các mục tiêu đặt ra ban đầu hay không, đề xuất những sửa đổi, cải tiến, bổ sung.
Khi hệ thống đi vào hoạt động, các nhà thiết kế và lập trình cần phải thực hiện thay đổi hệ thống ở mức độ nhất định để đáp ứng yêu cầu người sử dụng cũng như đề nghị của tổ chức. Những thay đổi này là cần thiết đề làm cho hệ thống hoạt động hiệu quả.
Bảo trì gồm có: bảo trì sửa lỗi, bảo trì thích nghi, bảo trì hoàn thiện, bảo trì phòng ngừa và phát triển. Khi chi phí bảo trì trở nên quá lớn, yêu cầu thay đổi của tổ chức là đáng kể, khả năng đáp ứng của hệ thống cho tổ chức và người dùng trở nên hạn chế, những vấn đề đặt ra đến mức cho thấy, đã đến lúc phải kết thúc hệ thống cũ và bắt đầu một vòng đời khác.

1.1.3.  Một số mô hình PTTK sử dụng

1.1.3.1.          Mô hình nghiệp vụ

Mô hình nghiệp vụ là một mô tả các chức năng nghiệp vụ của một tổ chức (hay một phạm vi được nghiên cứu của tổ chức) và những mối quan hệ bên trong giữa các chức năng đó cũng như các mối quan hệ của chúng với môi trường bên ngoài.
Một mô hình nghiệp vụ gồm có:
  + Biểu đồ ngữ cảnh của hệ thống
  + Biểu đồ phân rã chức năng
  + Danh sách các hồ sơ dữ liệu sử dụng
  + Ma trận thực thể dữ liệu  – chức năng
  + Các mô tả chi tiết về mỗi chức năng cơ sở
  + Biểu đồ hoạt động.

1.1.3.2.          Mô hình tiến trình nghiệp vụ

Mô hình hoá tiến trình nghiệp vụ là sự biểu diễn đồ thị các chức năng của quá trình để thu thập, thao tác, lưu trữ và phân phối dữ liệu giữa các bộ phận trong một hệ thống nghiệp vụ cũng như giữa hệ thống và môi trường của nó.
Trong phương pháp phân tích  HTTT hướng cấu trúc ,các tài liệu đầu tiên của quá trình mô hình hoá quá trình  nghiệp vụ là tập hợp các biểu đồ luồng dữ liệu mô tả nghiệp vụ của hệ thống theo một số khung nhìn khác nhau. Các biểu đồ đó là:
– Biểu đồ luồng dữ liệu mức 0.
– Phát triển biểu đồ luồng dữ liệu các mức i.
– Cấu trúc biểu đồ luồng dữ liệu logic các mức sơ cấp

1.1.3.3.          Mô hình dữ liệu – khái niệm

Mô hình dữ liệu – khái niệm là mô hình mô tả dữ liệu của thế giới thực, gồm các thực thể dữ liệu  và mối quan hệ của chúng.
Ba phần tử chính của ERM là: thực thể, thuộc tính và các mối quan hệ giữa các thành phần đó. Cụ thể:
– Thực thể: là khái niệm để chỉ một lớp các đối tượng cụ thể hay các khái niệm độc lập có cùng những đặc trưng chung mà ta quan tâm. Bản thể là một đối tượng cụ thể của thực thể.Mỗi thực thể được gán một cái tên. Tên thực thể là một cụm danh từ và viết bằng chữ in. Một thực thể được biểu diễn bằng hình chữ nhật có tên bên trong.
– Thuộc tính: là các đặc trưng của thực thể. Mỗi thực thể có một tập các thuộc tính gắn kết với nó.
– Mối quan hệ giữa các thực thể là một khái niệm mô tả mối quan hệ vốn có giữa các bản thể của các thực thể:

1.1.3.4.          Mô hình quan hệ

– Quan hệ: Là một bảng dữ liệu hai chiều có các cột có tên, gọi là các thuộc tính, có các dòng không có tên, gọi là những bộ dữ liệu (bản ghi).
– Các thuộc tính của quan hệ: chính là tên của các cột:
  + Thuộc tính lặp: là các thuộc tính mà giá trị của nó trên một số dòng khác nhau, còn các giá trị còn lại của nó trên các dòng này như nhau.
  + Khóa dự tuyển: Là các thuộc tính mà các giá trị của nó xác định duy nhất mỗi dòng, và nếu có nhiều hơn một thuộc tính thì khi bỏ đi một thuộc tính trong số đó thì giá trị không xác định duy nhất dòng.
– Các chuẩn của các quan hệ:  Là các đặc trưng cấu trúc mà cho phép ta nhận biết được cấu trúc đó. Có 3 chuẩn cơ bản:
  + Chuẩn 1 (1NF): Một quan hệ đã ở dạng chuẩn 1NF nếu nó không chứa các thuộc tính lặp.
  + Chuẩn 2 (2NF): Một quan hệ đã ở dạng chuẩn 2NF nếu nó đã ở dạng 1NF và không chứa các thuộc tính phụ thuộc vào một phần khóa.
  + Chuẩn 3 (3NF): Một quan hệ ở dạng chuẩn 3NF nếu nó đã là chuẩn 2NF và không có thuộc tính phụ thuộc bắc cầu vào khóa.

1.1.4.  Quy trình phân tích và thiết kế HTTT

1.1.4.1.          Khảo sát hiện trạng hệ thống

Trong phần này sẽ trình bày các bước thực hiện quá trình khảo sát và các công cụ được sử dụng để thu thập thông tin, dữ liệu.

1.1.4.2.          Xây dựng mô hình nghiệp vụ của hệ thống

Trong phần này tiến hành mô tả các thông tin dữ liệu của tổ chức ở dạng trực quan và có tính hệ thống hơn. Nhờ vậy, khách hàng có thể hiểu được và qua đó có thể bổ sung và làm chính xác hóa hoạt động nghiệp vụ của tổ chức hiện thời.
Một loạt các công cụ được sủ dụng ở đây như: biểu đồ ngữ cảnh, biểu đồ phân rã chức năng, ma trận các yếu tố quyết định thành công, ma trận thực thể dữ liệu chức năng, bảng danh sách các hồ sơ dữ liệu, mô tả chi tiết các chức năng nghiệp vụ và biểu đồ hoạt động. Các công cụ này giúp làm rõ hơn thực trạng của tổ chức, xác định phạm vi miền nghiên cứu phát triển hệ thống. Từ đó đi đến quyết định xây dựng một dự án về phát triển hệ thống thông tin, đưa ra được các yêu cầu cho hệ thống cần xây dựng.

1.1.4.3.          Phân tích làm rõ yêu cầu và đặc tả yêu cầu

Phần này làm rõ yêu cầu bằng cách sử dụng các mô hình và công cụ hình thức hóa hơn, như các mô hình luồng dữ liệu để mô tả các tiến trình xử lý, mô hình dữ liệu thực thể – và các mối quan hệ của nó, đặc tả các giao diện và báo cáo. Đến đây ta có được mô hình khái niệm của hệ thống. Với mô hình này, một lần nữa khách hàng có thể bổ sung để làm đầy đủ hơn các yêu cầu về HTTT cần xây dựng.

1.1.4.4.          Thiết kế hệ thống logic và hệ thống vật lý

Trong bước này cần tìm các giải pháp công nghệ cho các yêu cầu đã được xác định ở bước phân tích. Các công cụ ở đây mang tính hình thức hóa cao cho phép đặc tả các bản thiết kế để có thể ánh xạ thành các cấu trúc chương trình, các chương trình, các cấu trúc dữ liệu và các giao diện tương tác. Các công cụ ở đây bao gồm mô hình dữ liệu quan hệ, mô hình luồng hệ thống, các phương pháp đặc tả nội dung xử lý của mỗi tiến trình, các hướng dẫn thiết kế cụ thể,…

Còn nữa….
       

sanghv


Comments

comments

Powered by Facebook Comments

0

Hướng dẫn tìm kiếm trong trang web

Posted by sanghv on 30/04/2011 in Uncategorized |

Chào các bạn đã quan tâm và ghé thăm trang web!
Để tìm kiếm hiệu quả trong  trang web cũng như trên internet bạn có hai lựa chọn:
1. Tìm kiếm trong trang web: các bạn gõ từ khóa vào mục tìm kiếm ở vị trí thứ 1 (bên phải)
2. Tìm kiếm trên internet: các bạn gõ từ khóa vào mục tìm kiếm ở vị trí thứ 2 (giữa)

Hoặc bạn cũng có thể click vào các nội dung liên quan tới bài viết:

Chúc may mắn!
sanghv


Comments

comments

Powered by Facebook Comments

Copyright © 2007-2018 SangHv at Academy Of Finance – HVTC All rights reserved.
This site is using the Desk Mess Mirrored theme, v2.5, from BuyNowShop.com.