Lý luận chung về công tác kế toán tiền lương

 

1.3.1 Tiền lương và các phương pháp tính lương

1.3.1.1 Lí luận chung về tiền lương

       Trong giai đoạn hiện nay, tiền lương luôn được coi là một bộ phận quan trọng của giá trị hàng hoá. Nó chịu tác động bởi nhiều yếu tố như kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử. Ngược lại tiền lương cũng tác động đến phát triển sản xuất, cải thiện đời sống và ổn định kinh tế xã hội. Chính vì thế, không chỉ nhà nước (ở tầm vĩ mô) mà cả doanh nghiệp và người lao động (ở tầm vi mô) đều quan tâm đến chính sách và hệ thống quản lí lương.
Tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn với người lao động, tiền tệ và nền sản xuất hàng hoá trong điều kiện có sự biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm xã hội mà người lao động được sử dụng để bù đắp hao phí về sức lao động của mình trong quá trình lao động. Thực chất đây là một khoản tiền cần phải trả cho người lao động tương ứng với số lượng, chất lượng kết quả lao động của họ. Trong điều kiện tồn tại nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, tiền lương là một bộ phận cấu thành giá trị của hàng hoá, đó là một phần chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Còn với người lao động, tiền lương là một nguồn thu nhập của người lao động.
 Tiền lương là giá trị sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động và nguồn sử dụng lao động. Để bù đắp phần hao phí lao động đó, họ cần có một lượng nhất định các vật phẩm tiêu dùng đáp ứng nhu cầu ăn ở, mặc, đi lại…  Như vậy người sử dụng lao động phải đáp ứng nhu cầu đó cho người lao động đúng mức hao phí mà họ đã bỏ ra thông qua tiền lương. Tiền lương đảm bảo cho người lao động có thể tái sản xuất sức lao động để họ có thể tham gia vào quá trình sản xuất tiếp theo. Thu nhập là nguồn sống chủ yếu của bản thân người lao động và gia đình họ. Như vậy bản chất của tiền lương là toàn bộ phần thu nhập từ lao động mà người lao động nhận được sau thời gian lao động mà họ đã bỏ ra.
Tiền lương về mặt sản xuất và đời sống có hai chức năng cơ bản sau:
– Chức năng tái sản xuất sức lao động: Trong qua trình lao động sản xuất, sức lao động hao mòn dần cùng với quá trình tạo ra sản phẩm. Để thu hút nguồn lực sản xuất và thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội, một mặt nhà nước tạo môi trường, điều kiện để người lao động có việc làm, mặt khác nhà nước có chính sách hợp lí để đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động.
– Chức năng đòn bẩy kinh tế: Lợi ích kinh tế là một hình thức biểu hiện của một chế độ kinh tế xã hội nhất định, là hoạt động thúc đẩy kinh tế của con người. Trong quá trình lao động, lơi ích kinh tế là động lực manh mẽ nhất của toàn bộ nền kinh tế xã hội. Việc giải quyết  đúng đắn vấn đề về lợi ích sẽ phát huy tiềm năng của mỗi người lao động một cách tốt nhất trong quá trình lao động sản xuất. Người lao động là nguồn lực sản xuất, chính sách tiền lương đúng đắn sẽ là động lực to lớn nhằm phát huy sức mạnh của con người trong việc thực hiện mục tiênu kinh tế xã hội. Chính vì vậy việc tổ chức hệ thống quản lý lương phải  thúc đẩy và khuyến khích người lao động nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động.
         Đối với doanh nghiệp, tiền lương phải trả cho công nhân là một bộ phận chi phí sản xuất kinh doanh trong kì. Yêu cầu đặt ra với kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương là làm sao tính được đúng, tính đủ chi phí tiền lương vào chi phí sản xuất kinh doanh.
        Tiền lương phải trả cho người lao động được căn cứ vào các chứng từ như: Sổ lao động (Danh sách công nhân trong biên chế), Bảng chấm công, Phiếu xác nhận khối lượng sản phẩm hoàn thành, bảng kê khối lượng hoàn thành… trên cơ sở chứng từ này, kế toán tiền lương tính ra số lương phải trả cho người lao động. Từ bảng thanh toán tiền lương, kế toán tổng hợp tiền lương phải trả theo từng đối tượng sử dụng lao động, các khoản trích theo lương theo tỷ lệ quy định vào chi phí của các bộ phận sử dụng lao động và phản ánh trên “Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội”. Như vậy, kế toán tiền lương phải tính ra được số tiền lương của từng lao động, các khoản trích theo lương mà người lao động được hưởng và phần tính vào chi phí.
      Người lao động trong doanh nghiệp có thể chia làm các bộ phận sau: công nhân trực tiếp sản xuất, công nhân quản lí phân xưởng, nhân viên bán hàng, nhân viên quản lí doanh nghiệp…Tiền lương và các khoản trích theo lương của các bộ phận này được tính vào chi phí nhân công trực tiếp sản xuất, chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng, chi phí quản lí doanh nghiệp. Các khoản trích theo lương được tính theo một tỉ lệ quy định trên tiền lương phải trả, trong đó 20% tính vào chi phí của bộ phân sử dụng và 8.5% người lao động phải nộp (trừ vào lương). Do đó, tùy thuộc vào doanh nghiệp trả lương theo thời gian (lương cơ bản * số ngày làm việc) hay trả lương theo sản phẩm (đơn giá một sản phẩm * số lượng sản phẩm hoàn thành đạt chất lượng) để từ đó xây dựng phương thức tính lương. Để chương trình có thể xử lí tiền lương của người lao động vào chi phí của bộ phận sử dụng lao động, có thể đặt mã cho bộ phận sử dụng lao động và người lao động của bộ phận nào sẽ mang mã của bộ phận đó. Khi đó nhập mã công nhân, số tiền lương cơ bản, ngày làm việc thì chương trình sẽ tự động tính lương, các khoản trích và xử lí theo định khoản đặt sẵn.
         Việc tính lương và trả lương tự động giúp cho việc tập hợp chi phí và tính giá thành nhanh chóng, kịp thời. Ngoài các sổ Cái TK 334, 3382, 3383, 3384, bảng phân bổ tiền lương và BHXH, chương trình kế toán có thể cung cấp các bảng tổng hợp trả lương và các khoản khác, bảng lương tháng theo từng doanh nghiệp và có thể cho phép in phiếu lương từng nhân viên.
          Tùy vào điều kiện của từng doanh nghiệp, cách trả lương mà chương trình có thể thiết kế chi tiết hơn.

1.3.1.2 Các cách tính lương

Việc tính, trả lương có thế thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau, tuỳ theo đặc điểm hoạt động kinh doanh, tính chất công việc và trình độ quản lí. Trên thực tế thường áp dụng các hình thức trả lương sau:
– Hình thức tiền lương thời gian: là hình thức tiền lương theo thời gian làm việc, cấp bậc kĩ thuật và thang lương của người lao động. Theo hình thức này, tiền lương thời gian, tiền lương phải trả được tính bằng: thời gian làm việc thực tế nhân với mức lương thời gian.
Tiền lương thời gian với đơn giá tiền lương cố định gọi là tiền lương thời gian giản đơn. Tiền lương thời gian giản đơn có thể kết hợp chế độ tiền thưởng để khuyến khích người lao động hăng hái làm việc, tạo nên tiền lương thời gian có tiền thưởng.
Để áp dụng trả lương theo thời gian, doanh nghiệp phải theo dõi, ghi chép thời gian làm việc của người lao động và mức lương thời gian của họ.
Các doanh nghiệp chỉ áp dụng tiền lương thời gian cho những công việc chưa xây dựng được định mức lao động, chưa có đơn giá tiền lương sản phẩm; thường áp dụng cho lao động làm công tác văn phòng như: hành chính, quản trị, thống kê, kế toán…
– Hình thức tiền lương theo sản phẩm: là hình thức tiền lương theo số lượng và chất lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành đảm bảo yêu cầu chất lượng và đơn giá tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm, công việc đó. Tiền lương sản phẩm phải trả tính bằng: số lượng hoặc khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành đủ tiêu chuẩn chất lượng nhân với đơn giá tiền lương sản phẩm.
Việc xác định tiền lương sản phẩm phải dựa trên các tài liệu về hạch toán kết quả lao động.
Tiền lương sản phẩm có thể áp dụng đối với lao động trực tiếp sản xuất sản phẩm, gọi là tiền lương sản phẩm trực tiếp, hoặc có thể áp dụng đối với người gián tiếp phục vụ sản xuất sản phẩm gọi là tiền lương sản phẩm gián tiếp.
Để khuyến khích người lao động nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp có thể áp dụng các đơn giá lương sản phẩm khác nhau
+ Tiền lương sản phẩm tính theo đơn giá tiền lương cố định gọi là tiền lương sản phẩm giản đơn
+ Tiền lương sản phẩm giản đơn kết hợp với tiền thưởng về năng suất, chất lượng sản phẩm gọi là tiền lương sản phẩm có thưởng
+ Tiền lương sản phẩm tính theo đơn giá lương sản phẩm tăng dần áp dụng theo mức độ hoàn thành vượt mức khối lượng sản phẩm gọi là tiền lương sản phẩm luỹ tiến.
Ngoài ra, tuỳ theo tính chất công việc cũng như cách thức hạch toán tiền lương mà các đơn vị có thể sử dụng một trong hai cách trên hoặc áp dụng đồng thời cả hai cách.

1.3.2 Cơ sở lý luận về các khoản trích theo lương

Bảo hiểm Xã hội: Nhà nước quy định về chính sách Bảo hiểm Xã hội (BHXH) nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình trong các trường hợp: ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác. Các loại hình BHXH bắt buộc hoặc tự nguyện được áp dụng phổ biến đối với từng đối tượng và từng doanh nghiệp để đảm bảo cho người lao động  hưởng chế độ BHXH thích hợp.
 Loại hình BHXH bắt buộc được áp dụng đối với những doanh nghiệp sử dụng từ mười người lao động trở lên, ở những doanh nghiệp này, người sử dụng lao động, người lao động phải đóng BHXH theo quy định tại điều 149 của Bộ luật Lao động. Người làm việc ở những nơi sử dụng dưới mười lao động, hoặc làm những công việc dưới ba tháng, theo mùa vụ, hoặc làm các công việc có tính chất tạm thời khác, thì các khoản BHXH được tính vào lương do người sử dụng lao động trả để người  lao động tham gia BHXH theo loại hình tự nguyện hoặc tự lo liệu về bảo hiểm. Khi ốm đau, người lao động được khám bệnh va điều trị tại cơ sở y tế theo chế độ bảo hiểm y tế (BHYT).
Ngoài ra Nhà nước quy định doanh nghiệp phải trích bằng 22% mức lương cơ bản; trong đó 16% tính vào chi phí kinh doanh của đơn vị, 6% người lao động phải nộp từ thu nhập bình quân của mình. Quỹ BHXH dùng chi: bảo hiểm xã hội thay lương trong thời gian người lao động ốm đau, nghỉ chế độ thai sản, tai nạn lao động. Không thể làm việc tại doanh nghiệp, chi trợ cấp hưu trí cho người lao động về nghỉ hưu trợ cấp tiền tử tuất, trợ cấp bồi  dưỡng cho người lao động khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…
Về Bảo hiểm Y tế: Nhà nước quy định trích 4,5% theo lương cơ bản của người lao động, trong đó 3% doanh nghiệp tính vào chi phí kinh doanh, 1,5% người lao động phải nộp. Khi ốm đau, người lao động được khám bệnh va điều trị tại cơ sở y tế theo chế độ Bảo hiểm Y tế (BHYT). Quỹ Bảo hiểm Y tế chi phí cho việc khám chữa điều trị, tiền thuốc chữa bệnh ngoại trú…chi phí khám sức khoẻ định kì cho người lao động.
Kinh phí công đoàn: hình thành do việc trích lập theo tỉ lệ quy định trên tổng số tiền lương thực tế phải trả cho người lao động thực tế phát sinh trong tháng, tính vào chi phí sản xuất kinh doanh.
Tỉ lệ trích kinh phí công đoàn theo chế độ hiện hành là 2%. Số kinh phí công đoàn doanh nghiệp trích được, một phần nộp lên cơ quan quản lí công đoàn cấp trên, một phần để lại doanh nghiệp chi tiêu cho hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp.
Bảo hiểm thất nghiệp: từ ngày 01.01.2009 người lao động và các doanh nghiệp sẽ bắt đầu đóng Bảo hiểm thất nghiệp, và ít nhất tới 01.01.2010 người lao động bị thất nghiệp sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Có thể coi đây là chính sách mới có tác động trực tiếp tới người lao động, người sử dụng lao động và vấn đề an sinh xã hội nhằm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị thất nghiệp.
Đối tượng được nhận BHTN là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng với người sử dụng lao động có từ mười lao động trở lên.
Điều kiện được hưởng BHTN là phải đóng BHTN đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; đã đăng kí với cơ quan lao động khi bị mất việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động và chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng kí với cơ quan lao động theo quy định.
(Với quy định này thì tối thiểu phải tới 01.01.2010, các lao động bị thất nghiệp có đóng BHTN mới bắt đầu được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Năm 2009 mới tiến hành thu phí BHTN là chính)
Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi người lao động thất nghiệp. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ là 3 tháng nếu có từ đủ 12 tháng đến dưới 36 tháng đóng BHTN; 6 tháng nếu có từ đủ 36 tháng đến dưới 72 tháng đóng BHTN; 9 tháng nếu có từ đủ 72 tháng đến dưới 144 tháng đóng BHTN; 12 tháng nếu có từ đủ 144 tháng đóng BHTN trở lên.
            Nhà nước quy định: Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp. Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

1.3.3 Cơ sở lý luận về thuế Thu nhập cá nhân

* Đối tượng nộp thuế:
Đối tượng nộp thuế đối với người có thu nhập cao (dưới đây gọi tắt là đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân) bao gồm:
– Cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam
– Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau:
+ Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam.
+ Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi đăng kí thường trú hoặc có nhà thuê liên tục từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.
– Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện của cá nhân cư trú.
Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân là thu nhập chịu thuế và thuế suất.
·        Thu nhập chịu thuế:
1. Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm:
a) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ;
b) Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.
2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
b) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật Lao động, các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi trả, trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội.
c) Tiền thù lao dưới các hình thức
d) Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lí và các tổ chức
đ) Các khoản lợi ích khác mà đối tượng nộp thuế nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền
e) Tiền thưởng, trừ các khoản tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng, tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế, tiền thưởng về cải tiến kĩ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận, tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm:
a) Tiền lãi cho vay;
b) Lợi tức cổ phần;
c) Thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác, trừ thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ.
4. Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn trong các tổ chức kinh tế
b) Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán
c) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác.
5. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
b) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở
c) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước
d) Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản.
6. Thu nhập từ trúng thưởng, bao gồm:
a) Trúng thưởng xổ số
b) Trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại
c) Trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino
d) Trúng thưởng trong các trò chơi, cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác.
7. Thu nhập từ bản quyền, bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
b) Thu nhập từ chuyển giao công nghệ.
8. Thu nhập từ nhượng quyền thương mại.
9. Thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng kí sở hữu hoặc đăng kí sử dụng.
10. Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng kí sở hữu hoặc đăng kí sử dụng.
·        Thu nhập được miễn thuế
1. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.
2. Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất.
3. Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất.
4. Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.
5. Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường.
6. Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao để sản xuất.
7. Thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng Bảo hiểm Nhân thọ.
8. Thu nhập từ kiều hối.
9. Phần tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương làm việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của pháp luật.
10. Tiền lương hưu do Bảo hiểm xã hội chi trả.
11. Thu nhập từ học bổng, bao gồm:
a) Học bổng nhận được từ ngân sách nhà nước;
b) Học bổng nhận được từ tổ chức trong nước và ngoài nước theo chương trình hỗ trợ khuyến học của tổ chức đó.
12. Thu nhập từ bồi thường hợp đồng Bảo hiểm Nhân thọ, phi nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn lao động, khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật.
13. Thu nhập nhận được từ quỹ từ thiện được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, không nhằm mục đích lợi nhuận.
14. Thu nhập nhận được từ nguồn viện trợ nước ngoài vì mục đích từ thiện, nhân đạo dưới hình thức chính phủ và phi chính phủ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
·        Thuế suất: 
Kể từ 1-1-2009, khi Luật thuế TNCN có hiệu lực, sẽ không áp dụng cách tính thuế theo đối tượng có thu nhập thường xuyên từ trên 5 triệu đồng nữa, mà sẽ áp dụng cách tính giảm trừ gia cảnh. Theo đó, mỗi đối tượng nộp thuế sẽ được giảm trừ gia cảnh cho bản thân là 4 triệu đồng/tháng, cứ mỗi người phụ thuộc được giảm thêm 1,6 triệu đồng/người/tháng. Số còn lại sẽ nộp thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần với thuế suất 5% (mức áp dụng cho phần thu nhập tính thuế đến 5 triệu đồng).
Áp dụng theo Biểu thuế luỹ tiến từng phần quy định tại mục 2 điều 22 pháp lệnh sửa  đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao như sau:
            + Biểu thuế luỹ tiến từng phần áp dụng đối với cá nhân có thu nhập từ hoạt động kinh doanh, tiền công, tiền lương:

Bậc thuế
Phần thu nhập tính thuế/năm(triệu đồng)
Phần thu nhập tính
thuế/tháng(triệu đồng)
Thuế suất
(%)
1
Đến 60
Đến 5
5
2
Trên 60 đến 120
Trên 5 đến 10
10
3
Trên 120 đến 216
Trên 10 đến 18
15
4
Trên 216 đến 384
Trên 18 đến 32
20
5
Trên 384 đến 624
Trên 32 đến 52
25
6
Trên 624 đến 960
Trên 52 đến 80
30
7
Trên 960
Trên 80
35

·        Giảm trừ gia cảnh:
1. Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú. Giảm trừ gia cảnh gồm hai phần sau đây:
a) Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng (48 triệu đồng/năm);
b) Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 1,6 triệu đồng/tháng.
2. Việc xác định mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế.
3. Người phụ thuộc là người mà đối tượng nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng, bao gồm:
a) Con chưa thành niên; con bị tàn tật, không có khả năng lao động;
b) Các cá nhân không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức quy định, bao gồm con thành niên đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề; vợ hoặc chồng không có khả năng lao động; bố, mẹ đã hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động; những người khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng.
(Thông tin thêm về người phụ thuộc: Các trường hợp như anh, chị, em ruột; ông, bà nội, ông, bà ngoại; cô, dì, cậu, chú, bác ruột; cháu ruột (gồm con của anh, chị, em ruột) chỉ được xem là người phụ thuộc nếu ngoài độ tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động nhưng bị tàn tật, không có khả năng lao động, không có thu nhập hoặc có thu nhập dưới 500.000 đồng/tháng mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng.)
Chính phủ quy định mức thu nhập, kê khai để xác định người phụ thuộc được tính giảm trừ gia cảnh.
Hồ sơ  chứng minh người phụ thuộc :
Theo Thông tư 84 của Bộ tài chính về Thuế TNCN, đối tượng nộp thuế chỉ được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc nếu đã đăng kí thuế và được cấp mã số thuế. Riêng năm 2009, trường hợp chưa đăng kí thuế thì vẫn được tạm giảm trừ gia cảnh nếu thực hiện đăng kí giảm trừ gia cảnh và có đủ hồ sơ chứng minh người phụ thuộc. Hồ sơ giảm trừ gia cảnh nộp tại nơi nộp tờ đăng kí kê khai cấp mã số thuế.
Cụ thể, hồ sơ chứng minh người phụ thuộc là con chưa thành niên gồm bản sao giấy khai sinh hoặc bản sao sổ hộ khẩu. Đối với con trên 18 tuổi bị tàn tật thì ngoài giấy tờ trên còn cần có bản sao xác nhận của cơ quan y tế từ cấp huyện trở lên hoặc bản khai có xác nhận của UBND cấp xã về mức độ tàn tật không có khả năng lao động.
Trường hợp con đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề (kể cả học ở nước ngoài), để được giảm trừ thì cần nộp bản sao giấy khai sinh hoặc bản sao sổ hộ khẩu; bản sao thẻ sinh viên hoặc bản khai có xác nhận của nhà trường hoặc các giấy tờ khác chứng minh đang theo học tại trường.
Đối với vợ hoặc chồng đã hết tuổi lao động, hồ sơ giảm trừ cần bản sao sổ hộ khẩu hoặc bản sao giấy chứng nhận kết hôn. Vợ hoặc chồng trong độ tuổi lao động thì ngoài các giấy tờ trên phải có thêm bản sao xác nhận của cơ quan y tế từ cấp huyện trở lên hoặc bản khai có xác nhận của UBND cấp xã về mức độ tàn tật không có khả năng lao động.
Các trường hợp có thể được giảm trừ khác (cha, mẹ, anh chị em ruột, ông bà nội ngoại… đã hết tuổi lao động hoặc tàn tật không có khả năng lao động) thì cần có bản sao sổ hộ khẩu hoặc giấy tờ liên quan khác để xác định rõ mối quan hệ của người phụ thuộc với đối tượng nộp thuế; và/hoặc bản sao xác nhận của cơ quan y tế cấp huyện trở lên hoặc bản khai có xác nhận của UBND cấp xã về mức độ tàn tật không có khả năng lao động.
            + Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, trúng thưởng, tiền bản quyền, nhượng quyền thương mại, nhận thừa kế, quà tặng.

1.3.4 Quy trình hạch toán kế toán tiền lương

v Các chứng từ hạch toán lao động, tính lương và trợ cấp bảo hiểm xã hội
– Chứng từ hạch toán lao động:
+ Mẫu số: 01a – LĐTL – Bảng chấm công; 01b – LĐTL – Bảng chấm công làm thêm giờ.
+ Bảng thanh toán lương (Mẫu 02 – LĐTL)
+ Mẫu số: 05 – LĐTL – Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành
+ Mẫu số: 06 – LĐTL – Bảng thanh toán tiền làm thêm giờ
+ Mẫu số: 08 – LĐTL – Hợp đồng giao khoán
+ Bảng thanh toán tiền thuê ngoài – Mẫu 07 – LĐTL
+ Bảng thanh lí (nghiệm thu) hợp đồng giao khoán – Mẫu 09 – LĐTL
+ Bảng kế trích nộp các khoản theo lương – Mẫu 10 – LĐTL
+ Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội – Mẫu 11 – LĐTL
Ngoài ra, sử dụng một số chứng từ ban hành theo các văn bản pháp luật khác.
– Chứng từ tính lương và các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội
Căn cứ vào chứng từ ban đầu có liên quan đến tiền lương và trợ cấp BHXH được duyệt, kế toán lập các bảng thanh toán sau:
+ Bảng thanh toán lương – Mẫu 02 – LĐTL
Mỗi tổ sản xuất, mỗi phòng ban mở một bảng thanh toán lương, trong đó kê tên và các khoản lương được lĩnh của từng người trong đơn vị.
+ Danh sách người lao động hưởng trợ cấp BHXH
Bảng này được mở để theo dõi cho cả doanh nghiệp về các chỉ tiêu: họ tên, nội dung từng khoản BHXH người lao động được hưởng trong tháng.
+ Bảng thanh toán tiền lương – Mẫu 03 – LĐTL
Bảng này được lập cho từng tổ sản xuất, từng phòng, ban, bộ phận kinh doanh…; các bảng thanh toán này là căn cứ để trả lương và khấu trừ các khoản khác như BHXH, BHYT, khoản bồi thường vật chất… đối với người lao động
v Tài khoản kế toán sử dụng
Để tiến hành kế toán lương và các khoản trích theo lương, kế toán sử dụng một số tài khoản sau:
·        Tài khoản 334 – Phải trả người lao động
Kết cấu tài khoản này như sau:
Bên nợ:
         Các khoản tiền lương và các khoản phải trả người lao động
         Các khoản khấu trừ vào tiền lương và thu nhập của người lao động
         Các khoản tiền lương và thu nhập của người lao động chưa lĩnh, chuyển sang các khoản thanh toán khác
Bên có:
         Các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng có tính chất lương, BHXH và các khoản còn lại phải trả, phải chi cho người lao động.
Dư nợ (nếu có): số tiền trả thừa cho người lao động
Dư có: Tiền lương, tiền công, tiền thưởng có tính chất lương và các khoản còn lại phải trả cho người lao động
Tài khoản này được mở theo hai tài khoản cấp hai:
– Tài khoản 3341 – Phải trả công nhân viên
– Tài khoản 3348 – Phải trả người lao động khác
·        Tài khoản 338 – Phải trả, phải nộp khác
Kết cấu tài khoản này như sau:                 
Bên nợ:
         Các khoản đã nộp cho cơ quan quản lí
         Khoản BHXH phải trả cho người lao động
         Các khoản đã chi về kinh phí công đoàn
         Xử lí giá trị tài sản thừa, các khoản đã trả, đã nộp khac
Bên có:
         Trích BHXH, BHYT,KPCĐ tính vào chi phí kinh doanh, khấu trừ vào lương công nhân viên
         Số đã nộp, đã trả lớn hơn số phải nộp, phải trả được cấp bù
         Các khoản phải trả khác
Dư nợ (nếu có): Số trả thừa, nộp thừa, vượt chi chưa được thanh toán
Dư có : Số tiền phải trả, phải nộp
TK 338 có các tài khoản cấp hai liên quan đến kế toán lương:
+ 3382 – Kinh phí công đoàn
+ 3383 – Bảo hiểm xã hội
+ 3384 – Bảo hiểm y tế
+ 3388 – Phải trả, phải nộp khác
Ngoài ra kế toán còn sử dụng một số tài khoản khác như: TK 335 – Chi phí phải trả; TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp; TK 627 – Chi phí sản xuất chung; TK 111,112,138…
v Trình tự kế toán các nghiệp vụ liên quan tới tiền lương, các khoản trích theo lương
1.      Hàng tháng tính tiền lương, các khoản phụ cấp theo quy định phải trả cho người lao động và phân bổ cho các đối tượng, kế toán ghi sổ theo định khoản:
Nợ TK 241- tiền lương trả cho bộ phận XDCB
Nợ TK 622 – tiền lương trả cho công nhân t.tiếp sx
Nợ TK 623(6231) – tiền lương trả cho công nhân sử dụng máy
Nợ TK 627(6271) – tiền lương trả cho CNV quản lí phục vụ  ở pxsx
Nợ TK 641(6411) – tiền lương phải trả cho nhân viên bán hàng
Nợ TK 642(6421) – tiền lương phải trả cho NV phòng ban quản lí
          Có TK 334 – tổng số lương phải trả
2.      Tiền thưởng phải trả cho người lao động, ghi:
Nợ TK 353(3531) – thưởng thi đua từ quỹ khen thưởng
Nợ TK 622,627,641,642 – thưởng tính vào chi phí kinh doanh
Có TK 334 – tổng số thưởng phải trả
3.      Trích BHXH, BHYT, KPCĐ hàng tháng , ghi:
Nợ TK 627,622,641,642… – phần tính vào chi phí SX, KD
                     Nợ TK 334 – phần trừ vào thu nhập của người lao động
           
Có TK 338(3382,3383,3384) – theo tổng các khoản KPCĐ,
                                                             BHXH, BHYT phải trích lập
4.      BHXH phải trả người lao động:
         Trường hợp doanh nghiệp được giữ lại một phần BHXH để trực tiếp chi tại doanh nghiệp, thì số phải trả trực tiếp cho công nhân viên, kế toán ghi sổ theo định khoản:
Nợ TK 338 (3383)
          Có TK 334 – phải trả người lao động
         Trường hợp doanh nghiệp phải nộp toàn bộ số trích BHXH cho cơ quan BHXH, doanh nghiệp có thể chi hộ (ứng hộ) cơ quan BHXH để chi trả cho công nhân viên và thanh quyết toán các khoản kinh phí này đối với cơ quan BHXH, kế toán ghi sổ:
Nợ TK 138 (1388)
           Có TK 334 – phải trả người lao động
5.      Các khoản khấu trừ vào thu nhập của công nhân viên, ghi:
Nợ TK 334 – phải trả NLĐ: tổng số các khoản khấu trừ
Có TK 333 (3338)
Có TK 141,138…
6.      Thanh toán tiền lương cho công nhân viên, ghi:
         Nếu thanh toán bằng tiền:
Nợ TK 334 – phải trả người lao động
Có TK 111,112
         Nếu thanh toán bằng vật tư, hàng hóa:
+ Giá vốn của vật tư, hàng hóa:
Nợ TK 632 – giá vốn vật tư, hàng hóa
Có TK 152,153,154,155
+ Ghi nhận giá thanh toán:
Nợ TK 334 – phải trả người lao động
Có TK 512 – doanh thu nội bộ
Có TK 3331 – thuế GTGT phải nộp
7.      Chuyển tiền nộp BHXH, BHYT,KPCĐ, ghi:
Nợ TK 338 (3382,3383,3384) – phải trả, phải nộp khác
            Có TK 111,112
8.      Chi tiêu kinh phí công đoàn để lại cho doanh nghiệp, ghi:
Nợ TK 338 (3382)
             Có TK 111,112
9.      Đến hết kì trả lương còn công nhân viên chưa lĩnh lương, kế toán chuyển các khoản lương chưa lĩnh thành các khoản phải trả, phải nộp khác, ghi:
Nợ TK 334 – phải trả người lao động
Có TK 338 (3388)
10. Khoản kinh phí công đoàn vượt chi được cấp bù, khi nhận được kế toán ghi :
Nợ TK 111,112
            Có TK 338 – phải trả phải nộp khác
11. Đối với những doanh nghiệp sản xuất, để đảm bảo sự ổn định của giá thành sản phẩm, doanh nghiệp có thể trích trược tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất tính vào chi phí sản xuất sản phẩm, coi như một khoản chi phí phải trả. Mức trích được tính như sau:
         Khi trích trước tiền lương nghỉ phép, kế toán ghi:
Nợ TK 622 – chi phí nhân công trực tiếp
      Có TK 335 – chi phí phải trả
         Thực tế chi trả lương nghỉ phép, kế toán ghi:
 Nợ TK 335 – chi phí phải trả
      Có TK 334 – phải trả người lao động

  sanghv


Leave a Comment